Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn Forum Index Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn

 
 FAQFAQ   SearchSearch   MemberlistMemberlist   UsergroupsUsergroups   RegisterRegister 
 ProfileProfile   Log in to check your private messagesLog in to check your private messages   Log inLog in 

DÒNG ĐỜI - Phần 2
Goto page Previous  1, 2, 3, 4
 
Post new topic   Reply to topic    Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn Forum Index -> Bài Viết
View previous topic :: View next topic  
Author Message
Do Dung



Joined: 03 Aug 2005
Posts: 3170

PostPosted: Sat Nov 09, 2013 12:11 am    Post subject: Reply with quote

Bấy lâu nay Ngọc ngồi bán hàng ở vỉa hè thương xá Tax mà không dám cho bố mẹ và chị Lan biết. Chả là một ngày cũng như mọi ngày, Ngọc đem một mớ quần áo cũ và đồ dùng vặt vãnh trong nhà đi bán. Mãi đến xế trưa, nàng đi suốt dọc Huỳnh Thúc Kháng, sang tới Hàm Nghi mà chẳng ai chịu mua, ngay cả không ra giá vì họ nói dạo này ế ẩm, còn hàng ứ đọng nên không mua vào. Lang thang sang Nguyễn Huệ, vỉa hè cũng đầy người mua kẻ bán, có vẻ còn tấp nập hơn vì người đi lại đông hơn nhưng phần nhiều họ bán sách cũ, văn phòng phẩm, tranh ảnh, qùa kỷ niệm. Ngọc hỏi thăm một thằng bé mặt mũi hiền lành, trạc tuổi thằng Chương con chị Lan, đang ngồi trước chiếc hộp gỗ bầy mấy chiếc đồng hồ, vài cây bút máy, vài cặp kính đen.

- Buôn bán khá không em?
- Cũng tuỳ chị ạ, có ngày may thì đắt hàng hôm nào xui thì ế. Về không.
- Em bán thế này có phải xin phép hay thuế má gì không?
- Không, mạnh ai nấy bán, ai đến sớm thì có chỗ, ai tới sau thì hết. Chị muốn bán gì?
- Chị có ít quần áo cũ.
- Vậy chị ngồi xuống đây, ké với em cho vui.

Thằng bé dịch chiếc hộp gỗ sang một bên nhường chỗ cho Ngọc, không sửa soạn trước Ngọc chẳng có gì để trải ra, nó nhanh nhẹn rút miếng ni lông xếp gọn dưới hộp cho Ngọc mượn. Thế là Ngọc có “cửa hàng” đầu tiên trong đời.

Ngọc vừa bày mấy chiếc áo dài cổ chữ U bằng lụa hoa rất đẹp mà Ngọc đã mua ở tiệm vải trên đường Tự Do trong một chiều dạo phố với Trang, vài món đồ chơi và quần áo cũ của cu Chou. Ngọc còn dáo dác nhìn quanh chỉ sợ gặp người quen thì có hai cô gái miền Bắc cầm ngay chiếc áo dài lên ướm thử. Mặt hai cô sắc sảo, xinh đẹp dù chỉ mặc quần đen và áo sơ mi vải trắng cháo lòng may sát vào người. Hai cô này mà mặc áo dài của Ngọc chắc đẹp lắm vì tạng người cũng cỡ Ngọc. Thế là thuận mua vừa bán, hai cô là chủ mới của hai chiếc áo dài đẹp. Hai cô còn cho biết họ là văn công của Đoàn văn nghệ Trung ương, đang diễn ở rạp Quốc Thanh, hẹn mai sẽ đưa bạn tới mua nữa. Chỉ một lúc sau giỏ hàng của Ngọc được bán hết sạch, giá cao hơn khi nàng bán sang tay cho mấy người có sạp quần áo cũ. Ngọc thu dọn ra về, tặng cho Mạnh, thằng bé mới quen một chút tiền lấy thảo và hẹn hôm sau giữ chỗ hộ, Ngọc sẽ đem hàng ra đây bán tiếp.

Ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, một mảnh vải ni lông bày vài món hàng, trước mặt nàng là tiệm Bạch Tuyết, mới ngày nào cô dược sĩ vừa ra tường e ấp theo chàng vào đây chọn áo cưới. Những hình ảnh như nhoà đi, chập choạng với những kỷ niệm cũ mơ màng... Khương ơi, anh ở đâu. Anh có biết vợ anh đang ngồi vỉa hè lam lũ thế này không.

Tưởng cuộc sống tạm yên, mỗi ngày Ngọc ngồi vỉa hè bán hàng của chính nhà mình, sau thêm một ít mặt hàng bán được như đồ chơi, giày dép, mũ nón, tập vở trẻ con hoặc mấy cái radio cũ, lược gương cho phái nữ mà các chàng bộ đội hay mua để làm quà khi về quê. Lúc quân Cộng Sản tràn vào thành phố, Ngọc căm thù bộ đội miền Bắc nhưng khi tiếp xúc với những người bộ đội mặt non choẹt, ngây ngô, xanh bủng, vêu vao, ngơ ngáo, nhìn cũng biết là những khuôn mặt thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, Ngọc lại thấy tội nghiệp. Dĩ nhiên cũng có những anh chàng ba hoa, khoác lác đến buồn cười. Những lúc không có khách, Mạnh cũng kể cho Ngọc sơ qua về chuyện gia đình. Em là con lớn của một bầy bốn anh chị em. Cha là sĩ quan VNCH bị bắt làm tù binh trước 30/4 khi ông đang hành quân ngoài miền Trung, nay chưa biết bị giam giữ ở đâu. Mẹ ở nhà làm bánh cho mấy em đem bán trước các cổng trường. Mạnh được một người quen cùng xóm đưa hàng cho bán lấy lời giúp mẹ tiền chợ. Nghe cũng thật não lòng. Mặt em khôi ngô, mắt sáng thông minh, nụ cười hiền lành vậy mà phải bỏ học để kiếm sống. Vài năm nữa đến tuổi đi nghĩa vụ, lại phải đi lính như những người bộ đội kia. Ngọc thấy thương cho Mạnh và thương cả chính thân mình.

Hơn một tháng chị em buôn bán với nhau, những lúc bất chợt cơn mưa ập tới, túm tấm ni lông gói vội hàng vào chạy núp dưới hiên thương xá để trú mưa. Những lúc tưởng như công an rượt đuổi lo cắm đầu chạy chỉ sợ bị bắt hoặc mất hàng thì khổ. Bù lại có những lúc gặp món hời hay khách sộp chị em hỉ hả cười. Cho đến sáng hôm nay, sắp đến ngày lễ lớn, người ta phải quét dọn lòng lề đường, làm sạch “thành phố mang tên Bác”. Một tốp thanh niên tay mang băng đỏ xách súng AK dí vào từng người đuổi đi, không cho ngồi bán trên vỉa hè làm xấu thành phố. Ngọc nghiến răng túm hết hàng bỏ vào chiếc giỏ cói đi ra chỗ lấy xe mà uất hận, đầu óc lùng bùng như muốn nổ tung. Giận mà quên không hỏi địa chỉ thằng bé.

Bước vào nhà Ngọc như kiệt sức, vất người xuống ghế sô pha rồi oà lên khóc, nàng gào nấc lên, khóc cho xả những ấm ức dồn nén trong lòng. Có ai biết đến nỗi khổ này không. Muốn lam lũ cũng không được làm người lam lũ!! Khóc một lúc Ngọc mệt lả người ngủ thiếp đi cho đến khi như gặp cơn ác mộng, nàng choàng tỉnh, dậy sửa soạn đi đón con.
Back to top
View user's profile Send private message
CHUNGDAO



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1210

PostPosted: Sat Nov 09, 2013 7:37 pm    Post subject: Reply with quote

Cùng với việc theo học đại học Kinh Tế, Loan cũng nghe bạn bè, người quen chỉ bảo, ra chợ trời Tân Định bán thuốc tây lậu để kiếm sống. Thời ấy, trí thức như bác sĩ, dược sĩ, giáo sư… còn chẳng biết làm gì nên chuyện Loan phải lăn lộn ra chợ trời cũng là lẽ thường. Vốn liếng bán thuốc tây cần nhiều hơn là buôn gạo, vì thế Loan phải nén lòng bán đi chiếc nhẫn cưới kim cương có 5 hột kết với giá rẻ mạt 3 chỉ vàng làm vốn đi buôn. Những người trí thức không có vốn buôn bán thậm chí còn phải đạp xe cyclo kiếm sống. Sau này khi chồng hỏi về chiếc nhẫn cưới, Loan đã phải dối chồng là “em tháo ra cho con chơi mà nó vất đâu trong phòng tìm mãi không thấy”.

Cuộc sống cứ tiếp diễn, ngoài giờ đi học ở đại học kinh tế, đi lao động xã hội chủ nghĩa, Loan làm thêm việc đi mua thuốc tây ở các gia đình may mắn có thân nhân gởi hàng về, đem bán lấy tiền sinh nhai. Nhưng Loan đâu phải chỉ mua thuốc tây, thật ra gặp gì gởi về Loan cũng mua, từ xà bông cục Camay đến quần Jeans, áo pull… miễn có mác Mỹ, mác Âu Châu là được. Những người từ miền Bắc vào, giờ là người thắng trận, sau bao năm sống kham khổ bây giờ bắt đầu học đòi ăn diện và xài đồ “tư bản”. Tuy chửi Mỹ nhưng họ rất thích dùng đồ Mỹ, phải nói rằng cái gì gởi từ Mỹ về lúc ấy cũng được trân trọng. Tuy chẳng dám xài nhưng Loan cũng để lại hai cục xà bông Camay mà Loan thu mua được vào tủ quần áo để mỗi khi mở ra mùi thơm lan tỏa mang lại cảm giác dễ chịu.

Những ngày đi buôn thuốc tây là những ngày gian khổ nhất trong cuộc đời Loan, nắng mưa gì cũng phải lội đi giao hàng, công an và quản lý thị trường thì luôn rình rập như mèo rình chuột. Loan không tiếc cái sắc đẹp, cái làn da của mình nữa mà luôn bị ám ảnh bởi những cuộc bố ráp bắt bớ của chính quyền. Cứ cái nón lụp xụp và cái list hàng trên tay, Loan lang thang hết quán café này đến quán café khác tìm lái buôn để bán hàng, lúc ấy ăn mặc càng xoàng xĩnh càng tốt. Thường thì những người có nhiều tiền hơn, họ sẽ ngụy trang làm một sạp bán quần áo cũ ngoài chợ trời, tiện đó mua bán thuốc tây lậu luôn. Nhưng Loan vốn liếng ít ỏi, lại thêm còn con nhỏ và còn lo học nên tâm niệm, chạy được đồng nào hay đồng ấy để phụ đắp thêm vào đi thăm nuôi chồng và mua sữa cho con.

Ra đến chợ trời trong người không được có nhiều tiền vì nếu bị bắt thì sẽ bị ghép là tang vật và sẽ bị tịch thu hết. Các lái thuốc tây thường là những người ở tỉnh lên Saigon mua thuốc về bỏ cho các bác sĩ (cũng làm phòng mạch chui), hay bỏ cho những cửa hàng bán tạp hóa có kèm bán thêm các thứ thuốc cảm cúm, ho, trụ sinh thông dụng như Tylenol, Eucalyptine, Neo-codion, tetracycline…… Chỉ sau khi thuận mua vừa bán thì Loan mới lấy tiền của lái, chạy về nhà cất tiền và mang thuốc ra giao. Cũng may là nhà Loan gần chợ Tân Định, nếu không lại phải thuê nhà gần chợ để chứa thuốc.

Thuốc được cất giấu khắp nơi trong người, từ trong “soutien”, đến những túi may bên trong quần satin hay các ống lồng vào bắp chân có thun hai đầu để giữ thuốc. Giao thuốc thì thường vào quán café, 4 con mắt lấm lét của người mua và bán nhìn ra cửa, hợp cùng bao nhiêu con mắt của các bạn hàng khác canh giúp, thế mà cũng có lúc bị bắt quả tang, mà bị bắt thì coi như cả tháng đó húp cháo thay cơm.

Có lần Loan giao thuốc cho một tên lái ở tỉnh, móc mớ thuốc từ trong “soutien” ra đưa, hắn còn đùa “thuốc này ấm quá em ạ!”, Loan cảm thấy hụt hẫng sót sa mà đành câm miệng vì nếu thời thế không thay đổi, Loan đâu phải đối diện với những lời nói đùa khiếm nhã như thế. Rồi cũng có lần, Loan bị công an bắt khi đang giao thuốc. Hắn lấy xe Goebel chở Loan về ủy ban phường để tịch thu tiền, thuốc và làm bản cam kết. Tên công an thì thấp lùn, còn Loan thì cao lêu khêu ngồi phía sau xe, trông thật hài hước, hình ảnh đó làm cả chợ phải phì cười. Sau đó cùng với một số người khác, Loan còn bị chụp hình dán lên tấm bảng trong khu vực chợ giống như “wanted”, ê chề quá, Loan phải thuê người trèo lên gỡ xuống.
Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Wed Nov 13, 2013 5:26 am    Post subject: Reply with quote


Chuyến bay Paris-Frankfurt của Định đáp xuống đã lâu mà sao vẫn chưa thấy anh ra, Thư sốt ruột, bồn chồn, đứng lên ngồi xuống không yên. Không biết Định có gặp trở ngại gì ở phi trường Tân Sơn Nhất - Sài Gòn hay chuyến bay từ Sài Gòn sang Paris của Định bị trễ giờ ? Định có đi kịp chuyến máy bay từ Paris về Frankfurt hay phải đợi chuyến sau ? Mãi mê suy nghĩ nên Định đến bên Thư lúc nào không hay, chưa kịp định thần thì Định đã ôm choàng lấy Thư ….Anh ra cổng quan thuế bằng một cửa khác nên Thư không trông thấy anh…..Mọi thời khắc lúc ấy như dừng lại, mặc cho những lao xao ồn ào chung quanh, Thư nhắm mắt, ngã đầu vào vai anh, đôi dòng nước mắt không biết vì mừng vui được gặp lại nhau sau bao nhiêu ngày tháng xa cách nhớ nhung hay là những tủi hờn, ấm ức vì Định nhất định xa Thư, dọn lên Berlin, một thành phố xa lạ đầy bất trắc rủi ro rình rập…..Hay Thư khóc vì cả hai ? Thư không hiểu được lòng mình lúc đó.

Trên chuyến xe lửa từ phi trường về nhà, Định mở hành lý, dúi vào tayThư bức thơ của mẹ gủi sang. Anh đã tìm ra nơi cư ngự của gia đình Thư ở Sài Gòn…Quên cả sự có mặt của Định, Thư mở vội bức thư của mẹ, đọc ngấu nghiến…. Một bầu trời đen tối như chụp xuống đầu Thư ….

*
* *


…..Gần 10 ngày sau ngày 30 tháng tư, khi mẹ và các em từ Hà Tiên tìm đường về lại được Saigon thì căn nhà của bố mẹ đã bị niêm phong, nội bất xuất ngoại bất nhập. Mẹ không vào được nhà vì cổng vào nhà đã bị khóa trái bằng một dây xích to và cánh cửa chính bị đóng chéo ngang bằng 2 thanh gỗ bảng lớn. Cửa nhà hàng xóm bên phải đóng im ỉm, hình như chủ nhân cũng vắng mặt trong giờ thứ 25. Chỉ có bà Tư, hàng xóm bên trái là còn có nhà. Bà Tư cho mẹ biết là chỉ hai ngày sau khi Saigon thất thủ, có mấy người đàn ông lạ mặt đến gõ cửa nhà Thư. Không ai có nhà nên họ kêu một toán lính có đeo súng ống trên vai đến đóng nẹp gỗ niêm phong nhà lại. Nhà ông bà Phúc bên cạnh cũng cùng chung số phận. Trong xóm rất nhiều người đã ra đi, chỉ còn lác đác vài ba gia đình ở lại, trong đó có gia đình bà Tư……

Ngày xưa, khi nhà Thư mới dọn về đây, gia đình bà Tư đã ở đó tự bao giờ. Đất đai nhà bà rất rộng, có lẽ đây là đất hương hỏa của thế hệ trước để lại nên rộng gấp mấy lần các vuông đất khác chung quanh đó. Nhà bà Tư có cây vú sữa rất to, cành lá xum xuê, gần một phần ba cây vú sữa mọc sang nhà Thư, đến mùa, những trái vú sữa màu tím tím trĩu đầy cành trông rất hấp dẫn. Lúc đầu anh em nhà Thư còn lén lút bắt thang, bắt ghế lên hái, sau khi nhìn trộm sang nhà bà và cho rằng không có chủ nhân ở nhà. Cho đến một ngày, khi Thư đang ngẩn cổ vói để hái trái vú sữa tròn lẵng bóng láng trên nhánh cây khá cao, thì bà Tư trong bộ quần đen áo trắng xuất hiện ở mái hiên nhà bà. Lúc hái xong, định tụt xuống thang thì Thư khựng lại vì trông thấy bà, đúng là bị bắt gặp quả tang tội hái trộm. Nhưng bà chỉ mĩm cười hiền lành nói vọng sang “hái được bao nhiêu rồi con, đủ chưa ?”. Từ đó, anh em nhà Thư không cần phải lấm lét hái trộm nữa mà được công khai hái không cần xin phép, miễn đừng leo tường trèo sang nhà bà mà thôi.

Bà Tư người miền Nam, quê ở Bến Tre, khi mẹ Thư làm quen được với bà thì mới biết là bà sống một mình với cô con gái Út tên Hiếu Trinh. Nghe bà nói ông Tư đã mất từ lâu, mấy người con lớn của bà gồm 2 trai và 1 gái cũng đã ra ở riêng nhưng rất ít khi về thăm bà. Chị Trinh lớn hơn Thư 6-7 tuổi, chị học Marie Curie, ăn mặc đơn sơ, ít bạn bè, chị không đi Honda như mọi người mà đạp chiếc xe đạp màu đen của Hòa Lan rất đặc biệt. Rất ít khi nào Thư nghe tiếng động từ bên nhà bà Tư, mặc dầu cửa sổ phòng Thư quay sang nhà bà, họa chăng thỉnh thoảng có tiếng ủng ẳng của con chó con vẫy đuôi mừng bà Tư đi chợ về. Chẳng bù với nhà ông bà Phúc bên phía tay phải nhà Thư, đến buổi cơm trưa, tiếng kêu gọi nhau ăn cơm từ nhà trên vọng xuống nhà dưới nghe rõ mồn một hoặc tiếng bà Phúc mắng đầy tớ nghe sao mà có vần có điệu khôn tả…. DạoThư còn ở nhà, thỉnh thoảng Thư cũng thấy người con gái của bà đưa chồng con về thăm nhà, nhưng chỉ ngày hôm sau căn nhà lại trở về với sự vắng lặng cố hữu của nó….Hình ảnh bà Tư lủi thủi xách giỏ đi chợ một mình vẫn còn như in mồn một trong trí óc Thư. Nhưng không ai ngờ là người đàn bà hiền thục, dịu dàng, thầm lặng, có cái dáng quý phái thanh thoát đó lại có chồng và con trai lớn đi tập kết ra Bắc từ ngày chia đôi Nam Bắc, người con trai thứ hai lớn lên cũng theo cha và anh đi vào bưng, gia nhập Mặt trận giải phóng miền nam. Không biết người con trai thứ hai của bà có khi nào lén lút về thăm bà hay không thì không ai rõ, nhưng có lẽ mọi hàng xóm chung quanh nhà bà Tư đã được điều tra rõ ràng, chứ không, tại sao nhà ông bà Phúc và nhà Thư bị niêm phong ngay sau khi Sài Gòn mất ?

*
* *


…..Những ngày cuối cùng của Sài Gòn, bố mẹ và các em đã về nằm ụ ở Rạch Giá, lo hùn hạp mua tàu mua ghe, chuẩn bị cho chuyến vượt biển sang Thái Lan nếu Sài Gòn mất vào tay Cộng sản. Mọi việc hùn hạp rất vui vẻ. Mỗi người mỗi phần việc, cánh đàn ông lo dầu nhớt, nước uống, cánh đàn bà lo thực phẩm. Ông đại tá trong đoàn còn lo cả giấy di chuyển ra Hòn Khoai (nằm ngoài khơi Rạch Giá) với lý do: „ra thăm đồng bào miền Trung đang ở ngoài đảo sau cuộc di tản từ Đà Nẵng“. Kế hoạch này nhằm phòng ngừa nếu khi ra khơi mà bị tàu Hải Quân chận lại, xét hỏi theo lệnh cấm của chính phủ, thì đã có lý do và giấy tờ chính đáng.
Tàu dự định sẽ đi ngang qua vịnh Thái Lan, cứ nhắm hướng Tây là gặp mũi Ko Samui có cùng vĩ độ ngang với Rạch Giá và chỉ cần đi trong vòng một ngày một đêm là sang đến nơi. Tính toán dự trù là một chuyện, còn thực hiện có được như thế hay không lại là một chuyện khác.

Mọi người của chuyến đi đã thỏa thuận với nhau chỉ nhổ neo ra đi khi không còn một hy vọng nào nữa. Đúng ngay ngày ông Dương văn Minh đầu hàng, tất cả đã sẵn sàng để nhổ neo thì anh tài công được tin mẹ của anh hấp hối sắp qua đời. Thế là anh tài công hấp tấp kiếu từ rút lui, bỏ đoàn người gồm 9 gia đình nhốn nháo như rắn mất đầu, ngẩn ngơ quýnh quáng không biết tiến thối ra sao.

Một thiếu úy hải quân, chưa hề bao giờ lái tàu vì anh vốn là sĩ quan ẩm thực, chỉ lo mua bán thức ăn dự trữ cho thủy thủ và sĩ quan thuộc ban chỉ huy mỗi khi tàu ghé bến. Cá tôm anh mua từng cần xé, dưa muối anh mua từng vại, vì những chuyến hãi hành của tàu anh đi thường dài ngày, có khi cả tháng trời phải lênh đênh trên biển, nhưng lái tàu hay xem bản đồ hải hành thì anh chỉ được học trong quân trường chứ không có một ngày thực tập ở ngoài đời. Anh có mặt trong chuyến đi này vì anh là người cháu ruột của một ông đại tá đi cùng chuyến với bố mẹ. Nay không có tài công, anh là người duy nhất may ra có thể lèo lái con tàu. Cấp bách quá nên anh cũng nhắm mắt nhận đại phận sự điều khiển con tàu. Đứng trước một quyết định sinh tử quá lớn lao, ai cũng lo ngại, ra đi như thế này biết đâu chỉ làm mồi cho cá, bỏ xác ngoài biển khơi. Hai gia đình rút lui vì có con nhỏ, bố của chúng con một hai nhất quyết ra đi vì ông biết, ở lại là không thể nào thoát khỏi sự trả thù của Cộng Sản.

Ra khỏi vịnh Rạch Giá, mọi người đã thở phào, tưởng thế là thoát, tưởng thế là cũng ra khỏi VN trong giờ phút cuối cùng, ai ngờ khi qua khỏi Hòn Rái thì tàu bỗng dưng trở chứng, máy lúc chạy lúc ngừng. Quay trở lui hay đi tiếp ? Quyết định quay trở lui được cả tàu cho là sáng suốt vì tình trạng máy móc như thế này mà đi tiếp thì quá nguy hiểm. Mọi người trên tàu lúc ấy chỉ còn biết trông chờ vào tài lèo lái chỉ có trên giấy tờ của anh thiếu úy hải quân. Thế rồi tàu cũng quay mũi trở lại được đất liền, nhưng thay vì nhắm hướng để về lại vịnh Rạch Giá, tàu lại chếch sang hướng Hòn Nghệ, không về được bến cũ mà phải tấp vào mũi Dương Hòa, nằm về hướng bắc của Rạch Giá gần 70 km đường chim bay.

Trời đã khuya, lúc này máy tàu đã tắt hẳn, tiếng sóng vỗ vào mạn tàu nghe rõ mồn một như muốn tố giác âm mưu bỏ trốn, không ai bảo ai mọi người cùng vất đồ đạc lại trên tàu, lội lỏm bỏm hay bơi vào bờ. May mà tàu tấp vào vùng bờ biển tương đối bằng phẳng, không có những tảng đá ngầm với những con hàu sắc cạnh hay rong rêu bám đầy. Mẹ và nhiều người đàn bà khác trên tàu không biết bơi nhưng cũng cố ôm lấy tấm ván và được gia đình đẩy vào bờ. Lên được đến bờ, mọi người chia tay nhau tản mác, mạnh ai nấy lo, ai thoát được thì thoát, coi như không ai quen ai từ trước đến nay. Gia đình mình và gia đình chú dì Đại dắt díu nhau vào trú ẩn trong một túp lều trống trải ven biển. Tiếng chó sủa, tiếng người chạy rầm rập trong đêm tối thật hãi hùng nhưng may thay không có bóng dáng lính tráng hay công an canh phòng gì cả.

Trời rạng sáng, đã sang ngày 02 tháng năm, chú Đại và bố đi bộ ra bến xe thám thính để tìm đường về lại Sài Gòn. Mọi giao thông từ miền biển trở về Sái Gòn lúc này có lẽ đã bị kiểm soát nghiêm ngặt, những chiếc xe đò chạy trên quốc lộ vắng khách như chùa bà đanh. Đi xe đò về lại thành phố lúc này quả là lạy ông tôi ở bụi này, nhưng ở lại trong một quận lỵ xa lạ nằm ven biển thì cũng không khác nào treo sẵn lên người bản án vượt biên. Mọi người ai cũng đồng ý là không nên trở về Rạch Giá, tuy chỉ cách nhau khoảng 60-70 km, nhưng dầu sao cẩn thận vẫn hơn vì bà con ở đây đã nhẵn mặt những bộ mặt của dân Sài Gòn mất rồi.

Hai gia đình dắt díu nhau đi sâu vào quận lỵ, một quận lỵ nhỏ bé và quá xa lạ với dân thành thị, chưa một ai trong hai gia đình đã từng đặt chân đến đây, chiến tranh đã là những biên giới vô hình ngăn cản con người gần gũi xích lại với nhau. Nhưng may thay, bố mẹ hỏi thăm được một chú xe lôi, chú này đã giới thiệu một chỗ tạm trú cho cả hai gia đình, tuy chật hẹp nhưng còn hơn túp lều lộng gió trên bờ biển vắng người. Sau đó chú Đại thuê luôn anh xe lôi, đưa chú một mình chạy về Long Xuyên thám thính, chú bảo chú sẽ trở về lại nội trong ngày nếu không có gì trở ngại, trễ lắm là ngày hôm sau. Chú liều mình ra đi vì chú nghĩ chú chỉ là công chức nhà nước làm về thuế vụ, nếu có bị bắt thì tội cũng không to lắm, chứ bố các con thì tên bố đã nằm sẵn trong sổ đen của Cộng sản rồi, nên cần phải tránh mọi di chuyển bất hợp pháp lúc này. Tối mịt ngày hôm ấy, chú trở lại với tin vui là có thể đi xe đò trở về Sài Gòn, những nút kiểm soát chưa đến nỗi gắt gao cho lắm nhưng chú cương quyết khuyên bố không nên mạo hiểm mà hãy lẩn trốn một thời gian vùng hậu giang rồi tính sau.

Đêm ấy, một đêm không ngủ cho cả hai gia đình. Mẹ đề nghị hãy để mẹ về Sài Gòn với hai em Vinh và Thùy trước, hai em Phú và Phong sẽ đi chuyến sau, bố ở lại sẽ về sau cùng nếu không đi thoát. Điểm hẹn kín đáo nhất là địa chỉ nhà bà ngoại và bác cả ở Phú Nhuận, ai về đến được Sài Gòn hãy về đó chờ tin. Từ trước đến nay, mọi chuyện lớn nhỏ trong nhà đều do bố quyết định, nhưng lần này, mẹ lại là người bình tĩnh nhất, mẹ hiểu rất rõ bố không thể nào trở về Sài Gòn vào lúc này, về là nạp mạng, về là chết. Chi bằng cả nhà chia tay ở đây, bố các con ở lại tìm đường thoát một mình vẫn dễ hơn là dắt díu theo cả gia đình. Thoát được ra bên ngoài mới có cơ may bảo lãnh mẹ và các em ….

Hai ngày sau, mẹ, hai em Thùy và Vinh đi cùng với ba mẹ con dì Đại đi xe đò về Hà Tiên, rồi từ Hà Tiên đi làm nhiều chặng mới về được tới Sài Gòn. Ngày hôm sau, Chú Đại dắt theo đứa con trai lớn của chú đi cùng với hai em Phú và Phong, cũng tìm đường về được Sài Gòn nhưng chú Đại đi từ Long Xuyên. Bố các con ở lại. Ngày chia tay, lo âu căng thẳng tột bực nhưng trước cảnh biệt ly, chưa biết tương lai rồi sẽ ra sao, bố mẹ đã cố bình tĩnh, kềm nước mắt để tìm sinh lộ an toàn nhất cho gia đình
…..


Những ngày ngong ngóng chờ đợi tin nhau thật là dài đằng đẵng, một ngày như thiên thu, mẹ và các em của Thư đã về lại được Sài Gòn mà bố Thư vẫn biệt vô âm tín. Bố Thư có đi thoát hay còn kẹt lại trong nước ? Sao bố không nhắn tin nhờ ai đó đưa về ?

Tuy lo âu tột cùng, nhưng mẹ Thư cũng biết là không thể chỉ ngồi đó khoanh tay ngóng chờ mà mẹ biết là phải mau mau khai báo sự có mặt của gia đình ở vùng Phú Nhuận. Cũng may là trước đây mẹThư hay lên xuống thăm bà ngoại thường xuyên nên cũng quen biết xóm giềng chung quanh khá đông. Ông phường trưởng lại là người vẫn thường hay đến nhà đánh tứ sắc với bác cả, không biết ông còn được đảm nhiệm công việc ngày trước hay đã bị hạ bệ cất chức cho về vườn mất rồi. May mắn cho mẹ Thư là trong buổi giao thời, hạ tầng cơ sở chưa thể thay đổi gì nhiều nên ông phường trưởng vẫn còn đó, ông nhận đóng dấu ký tên chứng nhận gia đình Thư có sổ gia đình ở đây một cách lẹ làng. Có lẽ dân Sài Gòn muốn đùm bọc lẫn nhau trong cảnh loạn lạc tang thương này chăng ?

Về sống ẩn náu ở nhà bà ngoại, mẹ Thư thu nhập không có, bố Thư thì còn lẩn trốn dưới vùng hậu giang, hai em trai của Thư dang dở ở đại học Luật, cô em gái thì mới năm thứ 2 đại học sư phạm ban Anh văn, đứa em trai nhỏ nhất sắp sửa thi tú tài hai, mẹ Thư lo âu đến mất ăn mất ngủ, điên cả đầu, người gầy xộc hẳn đi, nhưng chưa biết xoay sở ra sao.

Muốn viết thư liên lạc báo tin cho anh em Thư thì mẹ Thư sợ chính phủ mới truy cứu ra là có con đi du học dưới chế độ cũ, thế nào cũng sẽ bị quy là gia đình thuộc thành phần tư sản địa chủ, nhất cử nhất động mẹ Thư chỉ sợ bị nhận diện.. Thư từ của anh em Thư gửi về mẹ Thư cũng không hề nhận được. Có lẽ chính phủ mới đã vất tất cả thư từ ngoại quốc của tư nhân gửi về cho thân nhân ở nhà vào sọt rác của thành phố. Đó là lý do vì sao mà anh em Thư chỉ nhận được duy nhất một telegramm ngắn và gọn của gia đình sau bao nhiêu tháng dài chờ đợi và tên người gửi không phải là mẹ Thư mà là của bác cả.



Last edited by MYNGA on Wed Nov 20, 2013 1:01 pm; edited 2 times in total
Back to top
View user's profile Send private message
bichlieu



Joined: 30 Mar 2008
Posts: 6224
Location: CANADA

PostPosted: Mon Nov 18, 2013 6:14 pm    Post subject: Reply with quote

Từ chiều hôm qua,sau khi Bình liên lạc đưọc vói anh Sơn ,hai anh em nói chuyện vói nhau qua điện thoại,anh cho biết là đả làm giấy bảo lảnh cho cả gia đình từ giủa năm 1974.Bình chưa có gia đình nên nằm chung danh sách vói bố mẹ Bình,còn vọ chồng anh Lâm thì đứng riêng một danh sách thuộc diện anh em.
Bây giờ chỉ cần nói vói phái đoàn Canada là đả có nguòi thân ở Montreal và nộp đon xin đi Canada và chọn ưu tiên ở thành phố Montreal,cho số dien thoại của anh để nếu cần thì họ sẻ liên lạc.
Biết là sẻ không ở cùng tiểu bang vói Bố mẹ nhưng khi giờ phút thật sự phải chia tay thì Thảo lại vừa buồn vừa lo Suốt đêm hôm đó Thảo không ngủ dưoc,nổi vui mừng gặp đưọc bố mẹ không lâu đả lại phải xa cách một lần nửa,nưóc mắt ứa ra,Thảo rấm rút khóc
Thảo không muốn song xa bố mẹ một chút nào. Con gái cho dù đả lập gia đình nhưng sống chung trong một thành phố,nếu muốn thì bất cứ lúc nào củng có thể về thăm gia đình ,sau bửa cơm tối hay là cả ngày thứ bẩy hoặc chủ nhật đều có thể về choi và ăn cơm vói bố mẹ suốt một ngày.Bây giờ mói phải làm sao ? Bao nhiêu lâu mói có thể gặp đưọc bố mẹ một lần ? Còn anh Quân nửa ? bây giờ anh ra sao ? anh đang ở đâu ?. Mải bận rộn lo đám cưói và thủ tục làm hôn thú,xin đi định cư ở nưóc thứ 3,Thảo ít có thì giờ nhớ đến anh.
Thảo củng biết là bố mẹ rất lo lắng và mong mỏi tin tức của anh nhưng không ai dám đề cập đến vì đều sợ khơi lên nổi lo sợ trong lòng về anh.
Anh Quân oi,bây giờ anh ở đâu ? Làm sao để bố mẹ và em có thể biết đưọc tin tức của anh ,anh oi.
Back to top
View user's profile Send private message
vutruong



Joined: 08 Aug 2005
Posts: 1931

PostPosted: Tue Nov 19, 2013 8:01 am    Post subject: Reply with quote

Từ ngày chồng đi học tập cải tạo, Hà đã mua ngay xe đạp và lầm lũi đạp đi làm, xăng bây giờ đắt quá nên chiếc xe Honda còn mới đành chùm chăn để ở góc nhà . May trường Dược ở gần và hiệu thuốc cũng không xa nhà nên Hà cũng bớt vất vả đạp xa, chỉ khi nào đạp xe về Chợ Lớn thăm gia đình chồng là Hà thấy sao xa quá, đạp mãi dưới trời Saigon nắng gắt, ướt đẫm mồ hôi mà mãi chưa thấy tới . Bàn tay Hà đạp xe mới mấy tháng đã nổi gân và thô nhám, Hà nhìn đôi bàn tay mình mà thấy xót xa, ngày còn là thiếu nữ mỗi khi lên xe là Hà luôn đeo găng, lúc nào cũng chăm chút cho đôi bàn tay trắng trẻo, mịn màng, vậy mà giờ đây Hà thấy như đôi bàn tay của ai khác, mấy đôi găng vẫn còn đó nhưng giờ đâu ai dám đeo nữa : thời Xã hội chủ nghĩa Lao động là vinh quang, đeo găng tay coi kênh kiệu quá !
Đến Chợ Lớn Hà hay ghé Lan và Phương, bây giờ đám bạn chẳng còn rủ nhau lên Lê Lợi sắm áo quần ăn diện nữa, cũng chẳng còn la cà các hàng quán đắt tiền hay nhàn nhã nhâm nhi ly kem trên phố, mấy đứa bạn cũ bây giờ chỉ còn thỉnh thoảng rủ nhau đi ăn mấy món quà rẻ tiền ở chợ Bầu Sen, Hà thích nhất món bún tầm bì thật ngon, đám con cúa Hà thì mê món chè ba mầu vừa ngon vừa đẹp nên đường đạp xe về có vẻ ngắn hơn, lòng đã vui vui và bao tử đã đầy !
Đôi khi Hà cũng đạp xe lên tận nhà Vi và mấy đứa bạn bị kẹt lại, hỏi han tin tức bạn bè, Thảo đã đi thoát trước ngày mất nước, Thanh Phương vào toà đại sứ Mỹ vào giờ chót đã được bốc đi, Lan Anh thì bố mẹ già không tính chuyện đi, đã bỏ nghề cô giáo sang nghề thợ may, Lan Anh bảo đám cán bộ trong trường vừa dốt vừa hống hách chịu không nổi, thêm tiền lương nay cũng không đủ sống . Mỗi tháng tiền lương mới họ trả chỉ đủ sống một tuần, lại xa nhà phải trả tiền thuê chỗ ở, tiền xe đò, đủ thứ tiền phải tiêu ... cầm cự được vài tháng Lan Anh quyết định bỏ nghề về Saigon sống với cha mẹ. Lan Anh rất khéo tay nên nhận cắt sửa áo dài thành áo ngắn khá đông khách, bây giờ chắng còn ai mặc áo dài, cũng chẳng có tiền may thêm áo bà ba nên sửa áo dài thành áo ngắn là tiện nhất, tiền kiếm được gấp mấy tiền lương cô giáo .
Phần Vi vẫn vừa bán chợ trời vừa trông con, bây giờ bán hết đồ trong nhà Vi đã buôn bán thêm đồ của họ hàng hay người quen gửi tới, lại còn biết mấy mối giao hàng tận nhà, nay Vi buôn bán có vẻ đã thạo việc và đời sống khấm khá hơn .

Sau khi bị cho nghỉ dậy vì thuộc gia đình " nguỵ " và dẹp tiệm thuốc vì thuế siêu ngạch quá cao, Hà cũng đã thử ra chợ trời theo chân người bạn rủ đi bán ghi đông và khung xe đạp. Hết đứng lại ngồi từ sáng đến chiều dưới trời nắng chang chang, người đi lại trả giá thì nhiều mà người mua không thấy, sáng khiêng ra, chiều dọn về toàn hàng nặng, chẳng có ai phụ giúp, lúc đó nhớ đến bố và chồng Hà ứa nước mắt, có ai hiểu Hà ra nông nỗi này không ? cực khổ đủ điều mà vẫn kiếm không ra tiền.
" Tiệm " của Hà chẳng có quầy hay lều chõng gì, chỉ có một miếng nylon trải ra đường, Hà vừa đội nón xùm xụp sợ gặp người quen vừa dòm chừng sợ họ lừa giựt hàng chạy như cảnh thường xẩy ra hàng ngày xung quanh. Được vài ngày đang nản thì Hà được chị bạn chỉ cho mối làm bánh bông lan giao tận tiệm của người quen .
Hà dẹp luôn nghề buôn bán khung và thắng xe đạp nặng nề về nhà làm bánh bông lan . Trước kia Hà hay làm bánh, chịu khó làm kem bắt bông rất thú vị trong những dịp sinh nhật con cái, bè bạn nhưng chưa bán bao giờ .
Bây giờ chỉ lảm bánh bông lan trong những khuôn giấy nhỏ, Hà lụi cụi đong bột đong đường, đánh trứng ...lò nướng làm rát mặt Hà cũng không màng, chỉ có đám con là vui nhất, mẹ vừa ở nhà vừa được ăn những mẻ bánh cháy ! kể ra cũng có lời đủ tiền chợ nhưng được vài tuần thì họ dẹp tiệm vì bị công an đuổi !

Hà đang lo âu tìm việc thì chị tổ trưởng phụ nữ nhờ Hà ra giúp làm sổ sách ở phòng phát nhu yếu phẩm ít ngày, một chị thư ký bất ngờ xin nghỉ về quê lo đám tang cho mẹ .
Hà phải đến từ sáng sớm mà người xếp hàng đã đứng chen đầy trước cửa hàng, nhiều người đến từ lúc đêm khuya . Vì hàng thường không đủ phát nên ai đến sớm được lãnh trước, ai đến trễ không còn hàng, có buổi mới phát được một phần ba số người đứng đợi đã hết hàng, mọi người phải ra về tay không sau khi đã chịu sương lạnh và nắng gió cả buổi . Tuy ai cũng biết thực phẩm của nhà nước chất lượng rất kém nhưng giá rẻ hơn ngoài chợ nhiều nên họ vẫn chen nhau, cãi cọ um xùm lúc xếp hàng để lãnh được nhu yếu phẩm . Nhà nghèo thì đây là dịp duy nhất có được chút thịt, chút cá trong tháng .
Khi Hà tới, kho hàng vẫn còn trống không, nghe nói hôm nay phát bánh mì xong sẽ phát khoai lang, thường xe khoai đến sớm hơn xe thịt và cá .
Bà con trong xóm ai cũng nắm chắc sổ gia đình trong tay, họ dặn Hà khi nhận tiền xong, phải ghi tên gia chủ vào sổ bánh mì và sổ gạo khoai trước khi họ phát hàng.
Bà con ồn ào chen lấn khi xe bánh mì tới, phát bánh mì chưa xong thì xe khoai cũng đổ vào phòng kho .
Hà nhìn những ổ bánh mì nâu xạm, cứng ngắc vì thiếu bột nổi . Đây là những ổ bánh mì xã hội chủ nghĩa mà đám em họ của Hà hay đùa với nhau ;
" NÉM CHÓ CHÓ CHẾT, NÉM NGƯỜI QUÈ CHÂN ! "
Vậy mà dân Saigon, một thời Hòn Ngọc Viễn Đông, nay phải nhai cho đỡ đói, vừa nhai vừa ngậm ngùi cho thế sự xoay vần, vừa phải tỉnh táo cho khỏi gẫy răng !
Còn món khoai lang, Hà nhìn khắp lượt đợt khoai mới đổ vào kho, cũng như bao lần phân phát trước Hà thấy quá nhiều củ bị hà, đầy mầu nâu vàng, ít củ nào còn tươi tốt . Không hiểu họ thu hoạch từ lúc nào, di chuyển, giấy tờ bê trễ ra sao mà khoai tới tay người dân quá trễ, uổng phí thực phẩm . Thật là tổ chức quá bê bối, quy cách làm việc xã hội chủ nghĩa : làm việc tà tà vô trách nhiệm, báo cáo láo !
Lãnh khoai cũng ồn ào như lãnh gạo, những tiếng than phiền nho nhỏ rì rào, tiếng chị cán bộ hách dịch, la hét như đang ban phát ân huệ lớn lao cho đám người nghèo khó, họ chia cho mỗi hộ gia đình vài ký lô mà có người còn dám nằn nì xin đổi củ nọ củ kia, làm chị cán bộ phải nạt nộ :
- Không lựa chọn gì hết, củ nào cũng ăn được !

Đến hôm phát cá Hà mới kinh hoàng, cả một xe cá đổ xuống mùi tanh nồng nặc khiến Hà muốn ngộp thở, con cá nào cũng đã lòi bụng, có lẽ không được bảo quản bằng xe đông lạnh khi di chuyến từ vùng biển về, chắc còn nằm phơi mình trên bến cả ngày dưới trời nắng gắt nữa, rồi nằm ụ trong kho ...nên đến tay người dân cá ươn lòi bụng cũng là chuyện đương nhiên, vậy mà bà con cũng tranh nhau đem sổ lãnh hết về cho đến khi kho trống trơn . Họ bảo nhau cho thật nhiều xả ớt vào đánh mùi hôi sẽ ăn được, ít nhất cũng có chất đạm vào người !

Ngày phát thịt cũng hôi không kém, những miếng thịt đã xạm khô, di chuyển đã không có phòng lạnh cũng chẳng có đá còn để khơi khơi dưới trời nắng, thịt lên mùi ôi rất nặng, vậy mà bà con cũng hăng say hồ hởi vào ngày bán thịt, tuy mỗi hộ gia đình chỉ được một miếng bằng nắm tay, còn tranh dành miếng nạc với miếng mỡ . Nhiều nhà thích nạc nhưng nhiều nhà lại thích mỡ vì mỡ có thể dùng chiên xào được nhiều ngày .

Hôm phát gạo thì mọi người xếp hàng rất sớm tuy chỉ là loại gạo đỏ nâu đã gần mục . Nhiều tháng không đủ gạo phát họ thế bằng bột mì hay sắn . Dân Saigon đã được ăn lần đầu món bánh bột luộc không nhân, không nước đường ! dù sao món bánh đó cũng làm bao tử bớt réo gọi !

Rất may là Hà chỉ phải làm ở phòng phát lương thực ít ngày thì chị thư ký trở về . Nghe nói họ thích làm ở chỗ phát lương thực lắm vì được nhiều đặc quyền đặc lợi và lãnh luôn phần những hộ vắng mặt !

Một thời gian sau vô tình lên Sở Y tế xin việc Hà được đi theo phái đoàn đi tiếp quản bệnh viện ....



Last edited by vutruong on Thu Nov 21, 2013 6:07 pm; edited 2 times in total
Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Wed Nov 20, 2013 12:30 pm    Post subject: Reply with quote

Trong lá thơ Định cầm tay đem sang, mẹ Thư nhắc đến tình trạng kinh tế hiện nay của gia đình: không còn nhà cửa, không còn thu nhập, không còn gì cả…..

….Ngày trước, bố mẹ Thư có một đồn điền cà phê ở Ban Mê Thuộc. Công việc kinh doanh này hầu như do một tay mẹ Thư trông nom điều hành, bố Thư vì ít thì giờ, vì luôn luôn bận chuyện công sở nên ít nhúng tay vào. Ở Ban Mê Thuộc, bố mẹ Thư cũng có một căn nhà nho nhỏ, không xa đồn điền bao nhiêu, rất tiện lợi khi lên về thăm nom đồn điền. Căn nhà được giao cho một người bà con trông nom. Thỉnh thoảng, gặp dịp hè hay lễ, anh em Thư cũng được theo mẹ lên đồn điền nghỉ hè, nhất là mẹ Thư biết lái xe nên bất cứ lúc nào bà cũng có thể lên xuống BMT, không phụ thuộc vào đường hàng không hay xe đò đông đúc.

Từ khi miền cao nguyên bị cắt đứt rồi rơi vào tay Cộng Sản, mọi liên lạc di chuyển lên xuống đồn điền hoàn toàn bị gián đoạn, ngưng trệ. Đồn điền cà phê của mẹ Thư tuy vậy vẫn được ông cai người Rhadé, đã làm việc lâu năm cho mẹ Thư, tiếp tục điều khiển. Trước đây, mọi việc canh tác của đồn điền mẹ vẫn khoán hết cho ông cai, từ chuyện thuê nhân công cho đến chuyện thu hoạch, nhất nhất đều một tay ông cai cai quản, mẹ Thư chỉ lo chuyện tiền bạc chi phí thu nhập và liên lạc với khách hàng ở Sài Gòn.

....Ra đi không thành, mẹ và các em về sống ẩn nhẩn ở nhà bà ngoại nhưng cũng ngầm nhờ người dọ hỏi tin tức đồn điền cà phê. Khi liên lạc lại được với đồn điền, ông cai cho mẹ hay là đồn điền đã được nhà nước đến „hỏi thăm“ chủ nhân ngay sau 30.04. Ông cai đã khai là chủ nhân từ trước vẫn ở SG, chỉ đi đi về về chứ không ở luôn trên này, nhưng mấy lâu nay vì đường xá bị cách đoạn nên đã lâu không liên lạc được với chủ. Ông cũng nhắn với mẹ là nhà nước muốn mời mẹ lên Ban Mê Thuộc để „bàn bạc“ tiếp tục công việc canh tác.

Còn nước còn tát, mẹ đành chường mặt ra tổ dân phố xin cấp giấy đi đường lên Ban Mê Thuộc với lý do „được nhà nước mời“. Đến nơi, theo lời chỉ dẫn của ông cai, mẹ tìm gặp được người „quản lý“ do nhà nước đề cử .

Người quản lý tiếp đãi mẹ rất thân mật và cởi mở. Ông ta cho mẹ hay là bây giờ nhà nước đang có chính sách muốn mở mang khuếch trương đồn điền nên đề nghị mẹ „đầu tư“, mua thêm 2 cái máy cày dùng để vở đất. Thoạt mới nghe đề nghị, mẹ tuy ngờ ngợ, nhưng cũng thầm „khen“ trong lòng là không ngờ chính phủ mới lại khoan dung, thực sự muốn khuếch trương công việc canh tác đồn điền như thế này. Nhà nước chỉ nhẹ nhàng yêu cầu mẹ đóng góp tài chính, mở mang đồn điền, lợi nhuận sẽ được phân chia công minh sau này.


Đứng trước một sự kiện gần như là không thể chối từ, không giúp nhà nước lại còn mang thêm tội „vô nghề nghiệp“, có thể bị đưa đi kinh tế mới, nên mẹ đành phải cắn răng bỏ tiền, đứng tên, mua hai cái máy cày cho đồn điền khai thác. Vả lại, lúc ấy mẹ vẫn nuôi ý định là sẽ ra đi khi được tin của bố, thôi thì ráng bỏ vốn ra kinh doanh lần chót, thu hoạch xong sẽ được nhà nước chia chác, có thêm được chút tiền rồi sẽ tìm cách theo chân bố đưa cả gia đình ra đi.

Vài tháng sau, khi được ông cai trung thành người Rhadé báo tin là mùa thu hoạch vừa mới hoàn tất xong, có thể lên BMT để tính toán tiền bạc với người quản lý mới, mẹ lại vội vàng ra đi. Lần này mẹ được ông quản lý và một ủy viên chính trị của địa phương tiếp đón. Họ bảo rằng, trước khi làm bảng tổng kết để chia lợi nhuận thì yêu cầu mẹ, trên nguyên tắc vẫn là chủ nhân của đồn điền, phải đóng thuế gồm những khoản như sau: thuế thu nhập năm nay, thuế làm chủ 2 cái máy cày và thuế đất của đồn điền vì hiện mẹ vẫn là ….chủ nhân.

Nhìn số tiền thuế đã được tính toán sẵn trên bảng tổng kết mà tên quản lý đang chìa ra, mẹ biết đây là lần cuối cùng mẹ có mặt ở đồn điền này hay nói cho đúng hơn là từ đây sẽ phải mãi mãi giã từ Ban Mê Thuộc. Người ta chỉ muốn dồn mẹ vào chân tường, chạy đằng nào cũng khó thoát, số tiền thuế quá lớn, tiền đâu mà trả ? Ví dù như có đủ tiền đóng thuế thì họ cũng sẽ quy mình là địa chủ, còn nếu không có tiền để đóng thì họ cũng có thể giam cầm mình vì tội trốn thuế. Ngoài ra, căn nhà bên cạnh đồn điền, họ bảo là „rộng“ quá, không ai ở, mà chính phủ thì chủ trương „không phí phạm, bỏ phí“.

Với những lý luận chặt chẽ, đã tính toán trước, chính phủ mới không cần phải ra mặt „đề nghị“ dây dưa, lâu lắc….Mẹ chỉ còn một quyết định cay đắng duy nhất: viết giấy dâng khoán cả cái đồn điền và nhà cửa cho nhà nước để được phép ra về, được phép làm dân „vô sản“, dân „bần cố nông“, không tiền, không nợ, không nhà, không còn gì cả, trắng tay !!

Bến xe đò Ban Mê Thuộc – Sài Gòn vẫn náo nhiệt không kém ngày xưa: tài xế, lơ xe, hành khách gọi nhau ơi ới, quang gánh xô bồ, tiếng còi xe bóp inh ỏi…...
Mẹ đứng thẩn thờ, cô đơn lẻ loi nơi bến xe…...Công khó bao nhiêu năm, bỗng chốc như bụi đỏ cao nguyên, theo cơn gió cuốn bay lên cao rồi mất hút trong không gian, không để lại dấu tích…..




Những dòng chữ cuối của bức thơ mẹ gửi sang đã nhòe nhoẹt đầy nước mắt, nước mắt của mẹ hòa lẫn với nước mắt của Thư. Thẩn thờ, như người không hồn, Thư gấp lá thơ cất vào ví.

Như một chia xẻ, Định kéo nhẹ Thư vào lòng anh, cả hai cùng yên lặng, lời an ủi nào bây giờ cũng bằng thừa. Tiếng còi xe lửa báo tin xe sắp vào hầm.....

Back to top
View user's profile Send private message
bichlieu



Joined: 30 Mar 2008
Posts: 6224
Location: CANADA

PostPosted: Wed Nov 20, 2013 6:28 pm    Post subject: Reply with quote

Vọ chồng Thảo đáp máy bay từ Mỷ sang đến phi trưòng Dorval của Montréal ngày 2 tháng 7,1975.
Trên chiếc xe bus chở hai vợ chồng từ phi trưòng đến khách sạn Queen Elizabeth nằm ngay trung tâm thành phố,nhìn xuống đưòng,tròi mùa hè nắng chang chang mà sao không một ai đọi nón,mủ hay che dù.
Trong xe bus có máy lạnh nên Thảo đoán là bên ngoai` chắc nóng lắm nhưng không hiểu sao mọi nguòi như chẳng ai quan tâm đến cái nóng ,nhửng ông già bà cả đứng đọi xe bus củng bình thản đứng giủa tròi nắng ,chả ai chờ trong lồng kính có mái che hay tìm chổ nào có bóng dâm de tranh nang.
Nhìn nhửng ông đầu hói ,phoi nắng đúng chờ xe bus mà Thảo chợt thấy nhức đầu ,nhớ đến tròi nắng gay gắt ở Saigon...
Sáng hôm sau,sau khi ăn điểm tâm trong phòng ăn của khách sạn,
theo lòi chỉ dẩn của nhân viên chính phủ ,ho,đặt bàn giấy ngay trong phòng ăn,dặn dò vợ chồng Thảo củng như tất cả các gia đình khác phải lên văn phòng của sở cư trú ở Atwater để làm một số thủ tục .
Cầm trong tay bản đồ chỉ dẩn của đưòng métro (xe điện ngầm ).
Khách sạn nằm gần một trạm métro vé xe củng đưọc phát sẳn cho mổi nguòi 1 tập 10 vé,chỉ cần bắt métro ,đi thẳng một đuờng gồm 7 trạm mà Thảo củng thấy chóng cả mặt vì chung quanh ai củng đi thật nhanh như chạy .
Vào đưọc một toa của métro rồi thì họ bình thản dù là đứng vịn hay ngồi,có nguòi lại dở sách báo ra đọc ,trong khi Thảo mở to mắt quan sát,cố nhìn để biết lúc nào mình phải xuống xe.
Chiếc métro lao vun vút trong đưòn hầm tối đen như mực ,đến một trạm để ngừng thì mói đọc đưọc tên trạm,nếu chờ đọc đưọc tên mói sửa soạn ra gần của thì..chắc không kịp.
Lở hụt một trạm không xuống đưọc thì mói phải làm sao ?
Xong thủ tục giấy tờ thì gần 11 giờ,hai vợ chồng lại dắt nhau tìm đưòng về khách sạn .
Métro nằm ngay trong shopping mall,đi ngang qua một cửa hàng ,thấy mọi nguòi mua một loại bánh làm ngay tại chổ và họ ăn rất ngon lành , vợ chồng Thảo bảo nhau mua ăn thử nhưng vì không quen ăn ngoai` đưòng ben` mang về khách sạn .
Về đến noi,đúng vào giờ ăn trưa, hai miếng bánh lại đưọc để dành trong phòng.
Ăn trưa xong,Thảo buồn ngủ ríu cả mắt nên ngủ trưa theo thói quen như lúc còn ở nhà.
Ngủ dậy,khoảng 3 giờ chiều hai vợ chồng mang bánh ra ăn thử rồi bảo nhau *Mấy bà đầm già sao răng họ khoẻ thế ? Bánh gì vừa cứng vừa dai mà họ nhai rau ráu và ăn ngon lành*..
Mải về sau này Thảo mói biết là pizza phải ăn lúc nóng ,càng để lâu thì càng ...dai nhách chứ các bà đầm già bên này đa số là hàm răng giả.
Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Thu Nov 21, 2013 6:24 am    Post subject: Reply with quote

Thừ từ liên lạc với gia đình ở VN chậm còn hơn rùa bò, gủi thơ đi 4 tháng sau Thư mới nhận được hồi âm của gia đình. Bên này Thư trông đứng trông ngồi để có được chút tin mới về gia đình, bố vẫn bặt vô âm tín. Bố đang ở đâu, sao chưa liên lạc với anh em Thư ? Các em của Thư bây giờ mới thực sự là lao đao. Mẹ Thư thì trăm mối lo, lo chồng, lo các con tương lai mù mịt, lo bà ngoại già nua bệnh hoạn, tiền bạc dành dụm không còn được bao nhiêu….Tất cả chỉ còn bám víu trông chờ vào sự giúp đỡ của anh em Thư từ Đức gủi về.

Nhà Thư bị niêm phong, bị chiếm đoạt, có muốn vào lấy một ít đồ đạc áo quần cũng không xin được phép, chủ mới không cho vào. Nhà Thư bây giờ nghe nói có một ông thượng tá từ ngoài Bắc dọn vào ở.

Trước ngày chạy về Rạch Giá tìm đường di tản, bố mẹ Thư đã đốt sạch tất cả giấy tờ, hình ảnh của gia đình, nhưng đồ đạc quý giá trong nhà thì bố mẹ Thư đã để nguyên tất cả lại. Những tưởng đi là đi luôn, không quay trở lại, không phải nhìn thấy cảnh người ngoài vào nhà chiếm đoạt gia tài sự sản dành dụm của mình thì cũng bớt đau lòng, đằng này, đi không thoát, phải ở lại, nên vẫn phải thấy, vẫn phải nhìn mà không làm được gì, có cảnh nào đau khổ cho bằng? Không biết ông thượng tá đã làm gì với 2 chiếc xe của gia đình Thư, vì khi bố mẹ Thư ra đi, xe vẫn nằm ngoan ngoãn vô chủ trong sân. Sau này, khi Phú, em Thư, đạp xe ngang nhà cũ nhiều lần thì không còn thấy bóng dáng hai chiếc xe đâu nữa. Cây đào sai trái trồng ở khoảng sân trước vẫn ra hoa ra trái, cảnh vật bên ngoài căn nhà ít thay đổi nhưng còn bên trong nhà thì sao ? Đứng trước căn nhà yêu quý của mình, biết bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu mồ hôi nước mắt của bố mẹ ….mà nay không được phép vào, không được phép nhận, Phú đau buồn, uất hờn, đành lầm lũi bỏ đi.....

Ở Đức, gặp bạn bè nào có gia đình đã chạy thoát sang nước ngoài, Thư vẫn lắng tai nghe bạn kể chuyện mà lòng không khỏi thầm ganh tỵ, mặc dầu Thư vẫn biết là bạn mình và gia đình cũng đang có những cấn cái, lo buồn riêng tư của họ, có ai mà không lâm vào cảnh khốn khổ khi nước mất nhà tan ? Nhưng chuyện khổ của gia đình bạn khác hoàn toàn chuyện khổ của gia đình Thư.

Hỏi han bạn bè cùng hoàn cảnh, gia đình còn kẹt lại ở quê nhà, Thư tìm cách gửi thùng quà đầu tiên về cho mẹ. Gửi gì bây giờ ? Thời gian đầu, thùng quà chỉ được phép nặng 2 kilô mà thôi. Thực tế nhất là gửi tiền, nhưng gửi bằng cách nào ? Ai chỉ bảo ra sao, Thư đều cố gắng xoay sở thực hiện trong phạm vi khả năng của mình.

Thùng quà đầu tiên, Thư mua 6 hộp Maggi để nấu lên làm soupe, vài cục xà bông thơm, một mớ bút nguyên tử Bic, một ít thuốc tây, hai xấp vải xoa màu đen để may quần, hai hộp bánh „LU“ và Salonpas.

Mỗi hộp soupe Maggi, loại có 6 miếng hình vuông, bên trong miếng Maggi hình vuông là bột soupe đã được ép chặt lại. Mua về, Thư mở cẩn thận lớp giấy bọc bên ngoài của miếng Maggi, lấy bột soupe bên trong ra, bóp nhuyễn rồi để vào một chén nhỏ. Tiền giấy Dollar, tờ 50 $, Thư xếp vuông vức thật nhỏ, xong đem gói chung, bao phủ bên ngoài với bột soupe đã bóp nhuyễn, ép đi ép lại, ép tới ép lui làm sao cho thành từng miếng hình vuông như lúc ban đầu, xong lấy giấy bọc có hiệu Maggi gói lại, giống y nguyên như khi chưa mở. Xếp được 300 Dollar vào các miếng Soupe Maggi, Thư hì hục gói xếp cả mấy đêm mới xong. May mà có Phiên khéo tay phụ giúp nên Thư cũng an tâm phần nào. Thuốc trụ sinh và thuốc bổ thì anh Huy đem lại cho Thư. Anh lựa toàn những loại thuốc có hộp nhỏ, vừa nhẹ, vừa dễ nhét cho bớt cồng kềnh.

Trong thơ gủi kèm trong thùng quà, Thư chỉ viết qua loa là quà nào biếu bà, quà nào biếu mẹ và các em, hỏi thăm sức khỏe và kể chuyện anh em Thư. Chỉ trong một thư khác, gửi theo đường dây bưu điện, Thư dặn mẹ là có gửi „3 hộp soupe“ biếu riêng cho bà ngoại dùng vì bà không còn răng để ăn cơm, phải ăn soupe. Ba hộp soupe đồng nghĩa với 300 Dollar. Đó là những „mật mã“ mà Thư đã nghĩ ra, với hy vọng là mẹ hiểu mà không đem tất cả ra bán chợ trời.

Ba thùng quà đầu đi trót lọt, đến thùng thứ 4 thì có lẽ công an phường đã để ý. Sao lần nào cũng gửi Soupe Maggi về ? Thế là tên công an bắt mẹ mở ra trước mặt chúng, mẹ Thư năn nỉ, ỉ ôi giải thích rằng mở ra tất cả mà không xài liền thì hư soupe hết, bà cụ ngoại không có gì để ăn. Cuối cùng, để được lãnh thùng quà đem về, mẹ phải làm ra vui vẻ, nhắm mắt, tặng đại cho tên công an kiểm soát 2 hộp Maggi. Đem về nhà, mở mấy hộp Maggi còn lại, không một tờ Dollar nào ló dạng. Mẹ đã tặng tên công an đúng ngay 2 hộp soupe Maggi „giả hiệu“. Lần đó, cả nhà Thư „đói meo“, đành phải chờ thùng quà của chuyến sau. Từ đó Thư không còn ra chợ mua soupe Maggi gửi về nữa mà đổi qua chiến thuật mới….
Back to top
View user's profile Send private message
phuongkhanh



Joined: 12 Sep 2006
Posts: 2314

PostPosted: Mon Dec 02, 2013 4:45 am    Post subject: Reply with quote

Chiếc máy bay Air France đáp xuống phi trường Orly vào khoảng trưa, bỏ lại tất cả sau lưng những gì xô bồ, tạm bợ, nóng ẩm của những ngày trong trại tỵ nạn của xứ Phi xa xăm…Mệt vì chuyến bay quá dài, ghé không biết bao nhiêu là phi trường, nhưng Quyên cũng háo hức theo chân Duy bước vội vã, chân cao chân thấp theo dòng người lũ lượt. Ngỡ ngàng trước quang cảnh lạ, ôi không khí ở đây sao mà thơm tho sạch sẽ thế này, đâu đâu cũng thấy các cửa hàng đèn điện sáng choang, thiên hạ mặc quần áo thật kẻng, ai cũng bước nhanh bước vội…Tiếng loa vang vang trên không, hai vợ chồng Quyên nắm chặt tay nhau bước vội về cổng quan thuế. Thủ tục nhập nội khá lâu lắc vì hai vợ chồng chỉ có cái giấy chứng nhận của Hồng Thập Tự với tên tuổi của hai vợ chồng và địa chỉ liên lạc ở Pháp với tên của chị Trinh, chị ruột của Duy.

Ra được bên ngoài, chị Trinh và anh Bernard, chồng chị, đã đứng sẵn…Mừng mừng tủi tủi, chị Trinh một tay nắm tay Quyên, cô em dâu mới của chị, một tay nắm tay Duy. Tấm ảnh đầu tiên trên đất Pháp của Quyên được anh Bernard lẹ làng thâu vào ống kính của anh. Chị em Duy đã lâu không gặp lại nhau, tính ra có lẽ cũng đã hơn 5 năm, kể từ lần cuối khi chị về SG thăm gia đình.

Mừng nhau chưa được bao lâu thì Quyên và Duy phải theo chân nhân viên của cơ quan xã hội, cũng ra đón người tỵ nạn ở phi trường, để đưa hai vợ chồng về trung tâm tiếp cư. Anh chị Trinh lái xe theo sau cho biết nơi cư ngụ tạm thời của Quyên Duy. Thời gian ở trại tiếp cư cũng hơn cả tháng. Cả ngày hết đi ra lại đi vào, hết khám sức khỏe lại đến điền đơn từ để đi học tiếng Pháp hay học nghề….Chờ đến cuối tuần anh chị Trinh mới có thì giờ ra thăm hoặc đón vợ chồng Quyên về nhà anh chị chơi cuối tuần. So với những đồng hương trong trại tỵ nạn, kể ra Quyên Duy còn may mắn hơn rất nhiều người. Đa số người Việt ở đây đến từ Lào hay Cambốt, thời gian này chưa có nhiều người Việt xin định cư ở Pháp .

Sau khi ra trại tiếp cư, vợ chồng Quyên về ở tạm nhà anh chị Trinh một thời gian. Ở nhà chị được vài ngày, chị Trinh nhờ người quen dẫn hai vợ chồng Quyên đi mua thẻ métro, vé xe bus tháng, làm giấy tờ cư trú, xin thẻ tị nạn, rồi đến trung tâm xin việc làm và xin nhập học khóa tiếng Pháp dành cho người ngoại quốc....

Căn appartement của anh chị Trinh ở Paris chỉ có hai phòng ngủ và một phòng khách, nhưng phòng ốc rộng rãi, trần nhà rất cao, kiến trúc cổ. Chung cư này có 4 tầng, anh chị ở tầng thứ 4, không có thang máy, nên mỗi lần đi chợ về phải leo bộ, xách giỏ bở hơi tai. Anh Bernard có thói quen, ăn cơm xong hai vợ chồng chưa chịu dọn dẹp bàn ăn mà ngồi nói chuyện ríu rít, hết chuyện này đến chuyện khác. Vợ chồng Quyên nghe tiếng Pháp như vịt nghe sấm, huống hồ gì nói tiếng Pháp. Chị Trinh thì ngại mất lòng chồng nên chỉ nói tiếng Pháp trong suốt bữa cơm, lâu lâu mới quay sang nói vài câu tiếng Việt với vợ chồng Quyên. Vì thế hai vợ chồng chỉ mong sao cho sớm chấm dứt bữa cơm, dọn dẹp lè lẹ rồi chui về phòng mình, nhưng cứ phải ngồi chịu trận, không dám đứng lên, vì chị của Duy đã có lần nhắc nhở vợ chồng Quyên không nên rời bàn ăn trước khi mọi người ăn xong, vì như thế là bất lịch sự. Khi dọn dẹp bàn ăn thì chị phụ hai vợ chồng Quyên đem chén dĩa vào bếp, xếp trong bồn cho gọn gàng, sáng hôm sau có một bà người làm tới rửa, và dọn dẹp nhà cửa khoảng ba tiếng một ngày. Thông lệ, thói quen nào ở đây cũng thật lạ lùng không quen cho Quyên.

Sau ba tháng sống chung, may mắn thay, chị Trinh thuê được cho vợ chồng Quyên một appartement nhỏ trong một chung cư cao 7 tầng, thuộc zone 4 của Paris, căn hộ chỉ có một phòng ngủ, một phòng khách, nhà bếp, phòng tắm với vòi tắm hoa sen và một nhà kho ở dưới lòng đất. Căn hộ chị thuê ở tầng trệt, mới đầu hai vợ chồng Duy không biết, cứ tưởng như ở VN, nhà ở chung cư mà được ở dưới đất là hãnh diện lắm, không biết rằng ở đây nếu ở chung cư thì ở càng cao, tiền mua hay thuê càng đắt.

Thời gian đầu, tiền thuê nhà của Quyên Duy được anh chị Trinh trả giùm, vì cả hai chưa có công ăn việc làm vững chắc. Căn nhà tuy nhỏ, nhưng được cái là tự do riêng biệt, dầu sao sống chung đụng với quá nhiều văn hoá cách biệt cũng cấn cái đôi khi đi đến ngộp thở cho tất cả mọi người. Quyên rất biết ơn anh chị Trinh nhưng nếu phải kéo dài thời gian sống chung với nhau trong một không gian gò bó chật hẹp, lại thêm trong lòng đang lo âu, nhớ nhung gia đình, nên dù cho khéo léo cách mấy cũng khó tránh có lúc làm buồn lòng nhau, dầu sao Quyên cũng còn quá trẻ. Dọn ra ở riêng mà Quyên và Duy không phải sắm sửa gì nhiều. Các bạn bè quen biết của chị Trinh cho từ cái canapé, bộ bàn ăn với 4 ghế, một ít nồi niêu, song chảo, điã to đĩa nhỏ đủ cỡ… Vợ chồng Quyên chỉ mua thêm chục chén ăn cơm, chục đôi đũa, hai cái tô múc canh, 6 cái tô ăn phở…Đời sống mới ở xứ lạ quê người, được như thế này là quá đầy đủ, vì thật ra Quyên và Duy cũng chẳng có bạn bè, thân nhân gì.

Lớp Pháp văn của vợ chồng Quyên kéo dài chỉ 3 tháng là hết chương trình, dù có muốn học thêm cũng không còn lớp cao hơn để học.Tuy cả hai chọn Pháp văn là sinh ngữ phụ lúc còn học trung học, nhưng chương trình dạy tiếng Pháp ở đây thường dành cho cho người chưa biết một tí gì về tiếng Pháp nên Quyên và Duy quyết định đi tìm việc làm.

May mắn cho Quyên là chị Trinh có một tiệm « Salon de Thé » nên chị đưa Quyên vào làm tạm trong Salon de Thé với chị, còn Duy thì hàng ngày phải ráng coi báo xem nơi đâu cần người thì đến đó tìm việc…

Chị Trinh giải thích với hai vợ chồng Quyên là : Ở bên này, khi mướn người làm, chủ phải khai báo với chính phủ, ngoài tiền lương trả cho nhân viên, chủ phải trả đủ thứ tiền, nào bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm ốm đau… Hiện nay Salon de Thé của chị đủ người làm rồi, chị không có khả năng mướn Quyên, nhưng muốn đem Quyên vào làm chung với chị để vừa học nghề, vừa học nói cho quen, rồi sau này chị có thể giúp Quyên tìm việc làm bếp…vì chị cũng quen biết nhiều. Mỗi tháng đã có anh chị trả tiền nhà, điện nước cho hai em rồi, mỗi tuần chị cho Quyên thêm tiền túi, và thức ăn trong tiệm Quyên có quyền lấy về để nấu ăn.
Nghe chị Trinh giải thích cặn kẽ như thế, Quyên vui vẻ chấp nhận biện pháp này. Đâu thể ngồi không, nhờ chị giúp mà đi học chữ hay học nghề được, vì học cái gì cũng đòi hỏi thời gian lâu dài, tốn kém. Trên đời phải « có qua có lại, mình học nghề không mất tiền mà », Quyên tự an ủi như thế.

Salon de Thé của chị có tên là « Rose Thé », mặc dù nghe tên là thế, nhưng chị có bán món ăn trưa cho khách, sau giờ ăn trưa chị mở cửa suốt buổi chiều để bán bánh, cho khách ngồi uống trà. Tiệm của chị tuy nhỏ, cách trang trí đối với mắt Quyên thì có vẻ cũ kỹ, nhưng người Pháp lại thích lối «cổ lỗ sĩ». Chị Trinh tuy là người VN nhưng dáng dấp chị to cao như một bà đầm chính hiệu, nói tiếng Pháp trôi chảy, không ngọng nghịu nên khách hàng tới uống trà, tán dóc, «ngồi lê đôi mách» rất đông, đa số là khách quen, và họ gọi nhau bằng tên. Buổi tối chị đóng cửa Salon de Thé, vì anh Bernard không muốn chị làm nhiều, mà muốn chị chăm chồng như một phụ nữ VN. Chị mở cửa tiệm để vui chơi với bạn bè là chính, chứ không phải vì do sinh kế. Do đó Quyên cũng may mắn không phải làm hôm làm khuya cực nhọc.

Quyên rất ngạc nhiên, không ngờ ở giữa thủ đô hoa lệ mà có căn hộ cổ lỗ sĩ như tiệm Salon de Thé của chị Trinh. Bề ngang tiệm chỉ chừng 3m, bề sâu chừng 10m, nền gạch tầu như những căn nhà cổ xưa ở VN, ghế thì bằng những thanh gỗ, khung sắt, có bọc tấm đệm mỏng cho khách ngồi cho êm.

Tiệm có 2 tầng, mỗi tầng kê được 4 bàn. Tầng trên có thêm một phòng làm bánh, tầng dưới là cái bếp chật hẹp, hai bàn làm việc kê hai bên vách tường, máy rửa chén bên tay mặt, bếp và lò nướng bên tay trái, chỗ đi chỉ vừa đủ cho một người, hai người thì phải chen vai thích cánh. Sau tiệm có một khoảnh sân nhỏ hẹp, nhiều khi chị dùng để chất nước khi hàng đến chưa kịp đem xuống kho. Phòng ăn tuy nhỏ nhưng chị cũng ráng chen vào một cái đàn piano, thỉnh thoảng mướn một cô đến đàn cho khách nghe.

Mỗi sáng chị tự lái xe đi chợ trời mua thức ăn, và mua hoa của mấy người hái từ vườn ở quê họ lên bán. Những bó hoa chị mua đa số là hoa dại, ẻo lả, mong manh, có khi gặp bà khách quen, thích những bó hoa khéo chọn của chị, từ chối mãi rồi chị cũng phải nhường lại cho bà khách. Đặc biệt, tiệm chị tuy có vẻ « nghèo nàn » nhưng những đồ dùng để pha trà như bình trà, bình đựng sữa, creme, đường, muỗng, nĩa, dao đều bằng bạc hay mạ bạc, nên coi tiệm sang hẳn lên. Báo hại mỗi tuần Quyên phải đánh đồ bạc với thuốc cho sáng ngời cũng mòn cả tay. Từ khi làm trong bếp Quyên không còn để móng tay nhọn, và sơn móng tay nữa như lúc còn ở Sài Gòn. Trong tiệm chị có rất nhiều loại trà, chị nói « Salon de Thé này theo kiểu Ăng Lê », vì đa số người Anh thích uống trà.

Khi làm việc chung với chị, Quyên mới thấy cảnh làm chủ ở bên này thật vất vả, không đứng chỉ tay 5 ngón như ở VN mà chuyện gì cũng phải làm, ngay cả chuyện cọ W.C hay cọ rửa nền gạch đỏ trong tiệm khi thiếu nhân viên làm việc. Đi chợ mua trái cây, rau cỏ, thịt thà, chị đều phải tự khuân các thứ vào xe, về đến tiệm thì nhân viên mới xúm lại tiếp chị mang hàng vào trong, do đó thỉnh thoảng chị bị đau lưng, khi đau phải nghỉ làm vài ngày, và mang cái thắt lưng vào người.

Anh chị Trinh có một căn nhà ở nhà quê, cách Paris hơn 200km, và có một thửa đất trồng nho để làm rượu, cốt chỉ biếu bạn bè chứ không phải để buôn bán. Vùng đó cũng có những khu rừng cho anh đi săn bắn, có kinh đào, và những ruộng lúa mì, những ruộng trồng bắp cho súc vật ăn, những ruộng hoa hướng dương người dân quê trồng lấy hạt làm dầu ăn. Cuối tuần chị để cho một cô người Hoa và một, hai người làm phục vụ để chị đi về nhà quê nghỉ với chồng.

Có lần chị Trinh tâm sự với Quyên : "nhiều khi chị không thích đi về quê với anh, vì anh cứ bỏ chị đi săn, đi câu cá, hay đi lo cho cái ruộng nho. Trong khi chị ở nhà thui thủi một mình, lo cơm nước, và lo làm sổ sách cho cái tiệm Salon de Thé của chị". Trong khi anh thì bực mình, cứ có cảm tưởng là anh bị mất giá, vì dù đi chơi với chồng, nhưng tối ngày chị cứ gọi điện thoại về cho Salon de Thé hỏi thăm nhân viên làm việc, và bảo ban người làm...

Quyên thường hỏi chị : "Chị cứ đi vắng, giao cho người ta lo tiệm, thất thoát làm sao biết được? " Chị thở dài nói :"Đành phải thế, mình mướn người thì phải tin tưởng người ta chứ em?". Khi Quyên vào đây làm thì Quyên cũng làm với họ vào thứ bẩy. Một tuần Quyên chỉ được nghỉ có một ngày chủ nhật, thay vì theo luật, nhân viên được nghỉ hai ngày một tuần. Sau mấy tháng quen việc, chị Trinh cho Quyên nghỉ thêm ngày thứ tư, mặc dù Quyên không hề đòi hỏi.

Chị Trinh theo cô ruột có chồng Pháp, qua đây hồi chị mới có 5 tuổi, nên nói tiếng VN giọng Bắc không lai Nam, nhưng nói không giỏi lắm. Có hôm hai chị em đang làm bếp, chị giải thích món này món kia, Quyên buồn cười khi chị nói cho « tự vị » vào món ăn thay vì « gia vị », Quyên phải sửa cho chị. Chị thường dùng chữ xưa như tự vị, bẻ lái, cái cùi dìa chẳng hạn, điều đặc biệt không hiểu sao là chị biết ăn cả tiết canh, mắm tôm, lòng lợn, dĩ nhiên là ăn ở nhà hàng chứ không ăn ở nhà vì anh Bernard không thích ăn những món đó. Chị thường hay chừa lại đầu cá saumon, mỗi khi lọc lấy hai cái phi lê ra làm món ăn cho khách, và nấu bát canh chua mặc dù thiếu đồ phụ tùng như dọc mùng, thì là, rau om, chị chỉ cho cà chua, hành, nhưng chị ăn canh chua này với cơm, và gặm đầu cá ngon lành. Chị vừa nói vừa cười cho Quyên biết là : «anh cấm chị khi đi ăn tiệm với anh mà gặm đầu cá, cánh gà , xương xẩu…».

Có một hôm chị rủ Quyên: «hai chị em mình học nói tiếng VN và tiếng Pháp trong lúc làm việc đi». Chị hỏi : «avocat là gì ?», vì đang làm việc trong bếp nên Quyên nhanh nhẩu nói : «avocat là quả bơ», chị nói : «không phải, là người cơ», Quyên : «à, là luật sư»…

Thời gian thấm thoát làm việc với chị Trinh đã gần một năm tròn, cũng vừa vặn hết thời gian được ăn trợ cấp của chính phủ, Quyên bèn nói với chị là :

- Chị Trinh ơi, thời gian sắp tới em phải tới cơ quan xin việc làm, lần này nếu họ cho em đi học tiếng Pháp hay đi học nghề là em phải nghỉ làm với chị, vì em cần việc làm có khai báo để mai mốt về già còn lĩnh tiền hưu trí mà sống.

Chị Trinh vui vẻ trả lời :

- Ừ, em cứ đi xin đi.

Đến cơ quan xin việc, Quyên đọc thấy một thông báo về lớp dạy
nấu ăn nhanh, giành cho người thất nghiệp lâu trên một năm trở lên. Quyên bèn hỏi người nhân viên phụ trách thì họ nói Quyên đủ điều kiện xin học khoá học này, và họ làm giấy giới thiệu Quyên tới xin học, nhưng được nhận hay không là do nhà trường ở đó quyết định.

Ngày hôm sau, Quyên tới trường học nấu ăn từ sáng sớm. Nhân viên nhà trường nói : « chúng tôi chỉ nhận có 15 học sinh cho khoá này, trong khi quí vị có tới 45 người nộp đơn. Vậy những ai có số 1 tới số 25 thì sẽ được phỏng vấn vào buổi sáng, từ số 26 tới số 45 thì 14 giờ quay trở lại. Quyên may mắn được phỏng vấn vào buổi sáng. Họ cho mời từng người một vào hỏi từng trường hợp. Họ hỏi tại sao Quyên chọn nghề này, Quyên nói là Quyên rất thích làm bánh và nấu bếp, và cho họ biết là trong một năm nay Quyên đã phụ bếp trong nhà hàng của chị chồng và Quyên rất muốn có một nghề để giúp Quyên tìm được công việc ở xứ sở này.

Sau 2 tuần, Quyên nhận được giấy mời tới học. Quyên vừa mừng, vừa buồn, chạy về khoe Duy :«thế là cái nghiệp làm bếp đã gắn liền với cuộc đời của em kể từ ngày hôm nay rồi».

Quyên vào tiệm khoe với chị Trinh là bắt đầu tháng tới Quyên sẽ nghỉ làm với chị vì phải đi học khoá « cuisine rapide », từ thứ hai tới thứ sáu. Chị Trinh nghe thế vội bảo Quyên « như vậy thì thứ bẩy em cũng tới làm cho chị nhé, vì chị phải nghỉ để đi về quê với anh ». Quyên không thể từ chối, vì anh chị vẫn còn trả tiền nhà cho vợ chồng Quyên. Nhưng từ đây, Quyên không thể mỗi tuần nhận của chị 500 françs như trước nữa, vì có làm trong tuần cho chị đâu mà lấy tiền của chị.

Theo luật là khi mình hết được hưởng trợ cấp mà xin được đi học do cơ quan tìm việc làm giúp thì mình được tiếp tục lĩnh tiền trợ cấp cho đến khi khoá học chấm dứt. Do đó, nhiều người thất nghiệp khôn ngoan, khi hết hạn được trợ cấp, họ mau mau đi tìm bất cứ khoá học nghề nào, mà không cần thích hợp với họ hay không, vì nếu được nhận thì họ tiếp tục hưởng tiền trong thời gian học nghề. Nên khoá cuisine rapide này có nhiều người không tha thiết làm bếp cũng nhào vô học, do đó Quyên học trội hơn mọi người, tuy trong lớp lại là người ít nói hơn cả, vì tiếng Pháp không giỏi như họ.

Lớp học tổ chức rất hay, chia từng nhóm, hôm nay nhóm này làm phục vụ, nhóm kia làm bếp, nhóm nọ rửa bát, nhóm làm khách hàng, hôm sau lại đổi vai trò, nhưng lúc học nấu nướng và làm bánh thì tất cả phải vào học chung hết.

Sau ba tháng học, thầy bắt xem báo và thúc đẩy học trò tìm tới những nhà hàng xin thử việc ba tuần. Quyên xin vào làm thực tập tại tiệm chị Trinh, trong thâm tâm, Quyên cũng muốn dùng thời gian này để đền đáp ơn nghĩa chị đã dành cho vợ chồng Quyên mấy lâu nay.

Sau khi thực tập xong, Quyên được trường cấp cho một chứng chỉ hành nghề, và ghi hạnh kiểm trong đó. Ông thầy nghe Quyên có chị là chủ nhà hàng bèn cho Quyên một giấy giới thiệu. Chị Trinh và Quyên cùng đến cơ quan xin việc của thành phố để ký một bản hợp đồng giữa hai bên. Chị Trinh từ đó chính thức mướn Quyên, và được cơ quan nhà nước giúp một khoản tiền đáng kể, mục đích giúp cho người tị nạn có công ăn việc làm ổn định ở xứ sở thứ hai của họ.

Thời gian này, chị của Duy cũng đang có chuyện lục đục với chồng, vì chị mải mê làm việc, nên có người thứ ba chen vào, do đó chị đang làm giấy tờ li dị với anh, đồng thời rao sang lại cửa tiệm. Chị giới thiệu cô gái người Hoa vào làm Salon de Thé của bạn chị, và chị làm hợp đồng mướn Quyên vào làm nhân viên chính thức của chị.

Làm việc chính thức ăn lương của chị Trinh được 6 tháng thì chị sang được cửa tiệm, Quyên mất việc nhưng được hưởng lương thất nghiệp. Tuy vậy cũng đủ để trả tiền nhà vì hai vợ chồng chị Trinh Bernard đã chia tay với nhau.
Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Fri Dec 06, 2013 4:28 am    Post subject: Reply with quote



Bước chân qua Pháp được ba tháng, tiếng Pháp bập bẹ được một số câu, nghe Tây nói thì vẫn cứ như vịt nghe sấm… sáng ra, khi mọi người đã ra khỏi nhà, ngày nào Duy cũng mò xuống sạp báo ở đầu đường, mua tờ báo về nhà, đọc mục tìm việc.

Anh Bernard sáng sớm ra đã mất biệt, anh đi làm từ 6 giờ sáng. Dân Tây buổi tối thì hưỡn đãi cà kê cứ như là phong lưu chánh hiệu, nhưng sáng ra thì vội vã như ma đuổi không thua gì ai, tay kẹp ổ Baguette, kèm thêm tờ báo để lên Metro đọc, chẳng ngó ngàng gì đến bàng quan thiên hạ chung quanh. Quyên lúc này đã vào „Salon de Thé“ của chị Trinh để học việc, Quyên ra khỏi nhà trước cả chị Trinh. Chị Trinh lái xe đi chợ, thỉnh thoảng chị có kêu Duy đi theo khi phải mua nhiều hàng hóa. Khiêng vác hộ chị xong mới 10 giờ sáng, không biết làm gì, Duy lại thả bộ về nhà, tiết kiệm một vé Métro, lại có dịp nhìn ngang nhìn ngửa sinh hoạt Paris buổi sáng, rồi về nằm khểnh đọc tiếp mục tìm việc. Đọc đỏ cả mắt cũng không tìm ra được việc nào hợp với khả năng của Duy lúc này.

***

(Tưởng nhớ đến chị MC-Pháp....)


Thấy Duy hăm hở muốn đi làm mà vẫn không tìm ra việc, chị Trinh đề nghị :

- Hay Duy thử đến làm tạm trong xưởng may của Thủy, con cô Nhàn nghe ?

- Em đâu biết may vá gì.

- Không sao, Duy cứ đến, thợ của Thủy sẽ chỉ cho em, nếu không may được thì Duy ủi đồ, kết nút hay giao hàng, thiếu gì việc làm, còn hơn ở nhà.

- Ờ, cũng được, để em thử xem, chứ nằm nhà hoài em sắp phát điên lên rồi.

Thế là sáng hôm sau, Duy mua cái vé métro tìm đường đến nơi làm việc.

Paris thật hoa lệ trong những tấm carte postale, nào tháp Eiffel vươn cao trên nền trời xanh biếc, nào vườn Luxembourg hoa cỏ xanh tươi, nào sông Seine êm đềm uốn lượn dưới những chân cầu chạm trổ tinh vi…

Nhưng khi Duy tới khu Pigale này thì lại khác hẳn, chẳng những không đẹp mà còn rất hỗn độn. Ðó là những đường phố chật hẹp, hai bên đều là những tiệm may gia công hay bán quần áo nho nhỏ, đa số là quần áo cho phụ nữ bầy chật các tủ kính, Duy không thấy khác chợ Sàigòn bao nhiêu. Chen lẫn với những tiệm Sex shop treo màn đỏ sặc sỡ, sáng sớm còn đóng cửa im ỉm. Người đi lại đông lắm và hình như rất ít người Pháp vì họ nói chuyện với nhau rất nhanh bằng thứ tiếng gì đó lạ lắm nên Duy chẳng hiểu câu nào ra câu nào.
Dò dẫm mãi mới tìm được cửa tiệm của Thủy, con cô Nhàn, nằm trên từng hai của một toà nhà cũ kỹ. Thấy Duy đến, Thủy vội ra đón và dẫn vào căn phòng nhỏ để san sát gần 10 cái máy may to như cái bàn, ở mỗi bàn đều có một thợ may đang cúi đầu chăm chú đạp, không buồn ngước mắt lên nhìn người lạ. Duy rất ngạc nhiên vì cứ nghĩ là thợ may phải là đàn bà, nhưng không, thợ may ở đây toàn đàn ông !

Thủy vừa dẫn Duy đi quanh phòng vừa đưa tay chỉ chỏ cắt nghĩa :
- Đây là máy may kỹ nghệ, động cơ mạnh lắm chứ không giống như máy may để dùng ở nhà đâu, còn đây là máy vắt sổ khi dùng phải cẩn thận vì nó chạy nhanh mà mình không rành nó cắt phạm vào vải là coi như vứt cái áo đó.

Thủy chỉ vào từng đống vải nằm dưới đất :
- Còn đây là những mảnh áo đầm đã được cắt sẵn, người ta giao cho chúng ta ráp lại thành áo. Khi nào may xong chủ sẽ đếm từng cái mà trả tiền. Mình may mau chừng nào thì lãnh lương nhiều chừng đó. Em có một người thợ giỏi nhất chuyên môn ráp cái áo đầu tiên làm mẫu để các thợ khác may theo.

Ðó là ngày làm việc đầu tiên của Duy, may không biết, vắt sổ cũng không, thôi thì việc gì dễ nhất để dành cho Duy vậy, đó là việc mở bao lấy vải ra để dưới chân các ông thợ để họ vắt sổ rồi ráp thành áo. Áo may xong ủi thẳng, máng lên sào để đem đi giao. Hết chuyện làm thì kết nút làm chung với mấy đứa học trò, chuyên làm trong mùa hè kiếm chút tiền túi. Nhưng ngay cả kết nút, Duy cũng không rành, kim đâm vào tay rất nhiều lần. Cuối ngày, đống áo kết nút của những người khác cao gấp 3 lần của Duy.

Thợ may hầu hết là người Thổ hay Nam Tư, họ nói tiếng Tây rất dở nhưng tay nghề lại giỏi vô song, cắm cúi đạp bàn máy may chạy vù vù, sáng sớm chỉ là những đống vải to xù, chiều đến chúng nó đã trở thành những cái áo đầm thật đẹp, treo gọn gàng trên móc. Ðường kim mũi chỉ nhỏ rưng rức, từ lai áo, tay áo, túi áo đến cái giây thắt lưng, chỗ nào cần may cách lề 5 phân, 2 phân… nếu lấy thước đo thì đúng phong phóc.

Ðó là may, còn vắt sổ thì Duy lại càng phục lăn, những mảnh vải lớn nhỏ hình dạng khác nhau tròn, vuông, chữ nhật đủ cả. Chân nhấn chạy liên tục cái máy vắt sổ, tay cầm mảnh vải kê theo lưỡi dao cắt xoay nhanh theo, mảnh vải nào thẳng thì còn dễ, những mảnh được cắt cong theo đường vai, đường nách, đường túi chỉ sơ hở một chút là máy xoẹt cắt phạm vải, những tay mới vào nghề cứ phải ngừng lại xoay nhẹ vải để đừng cắt phạm, thợ giỏi không hề ngưng chân đạp, máy chạy vù vù, hai tay khéo léo đưa vải thật nhanh và gọn theo lưỡi dao cắt và cái kim vắt sổ. Duy nể quá xá! Chẳng hiểu những người này bắt đầu tập may từ mấy tuổi, tò mò hỏi thì Thủy lại đùa:

- Người Thổ được sinh ra đời trên cái bàn máy may đó anh ơi.

Dạo đó xưởng may phát đạt lắm vì được một nhà sản xuất quần áo nổi tiếng đặt may rất nhiều, có điều thợ may gia công muốn kiếm được khá tiền một chút mỗi ngày phải đạp máy khom cả lưng để hoàn thành khoảng 5-7 cái áo, tiền công thợ rẻ mạt ! Trong khi một cái áo bán ra giá rất đắt, 1 ngàn hay 2 ngàn quan, nhưng chủ chỉ trả cho hãng may gia công khoảng 60 quan 1 cái. Khách mua áo lại rất khó tính, họ nhìn từ đường kim mũi chỉ, chỉ cần thấy một lỗi nhỏ là bắt bẻ, vì thế khi đi giao hàng cũng rất hồi hộp, chỉ sợ chủ không hài lòng, bắt đem về.

Từng chiếc áo được ủi thẳng nếp, móc thành hàng trên cây sào, Duy và một gã thợ phụ của xưởng may, mỗi người một đầu, nâng sào để lên bờ vai như các bà gánh nước xứ ta. Một cái áo thì nhẹ tênh nhưng 20 hoặc 30 cái, nhất là áo mùa đông toàn bằng vải len dầy trở thành nặng vô cùng. Hai người bước thấp bước cao trên vỉa hè Paris, mắt nhìn xuống đất, vì cả hai đều không cao lắm mà áo nào áo nấy dài lướt thướt, nên thỉnh thoảng họ lại phải lấy tay nâng hẳn xâu áo lên để tránh vạt áo quệt vào những bãi phân chó, những vũng nước đọng trên lề, những tờ giấy bẩn và những lon nước ngọt rải rác lăn lóc trên lề đường.

Với cái gánh nặng chĩu trên vai nhưng Duy và gã thợ phụ vẫn nhìn ngang nhìn ngửa các chị em ta đứng dọc hai bên đường. Khu này được coi là „khu nóng“ của Paris. Sáng sớm chẳng thấy ả nào, nhưng khi thành phố lên đèn, họ mới túa ra kiếm khách, các nàng đứng ỏng ẹo dựa vào tường hay trong một góc tối của con hẻm. Các ả này đủ màu da đen, trắng, cà phê .. ăn mặc hở hang thấy rõ cả vú, mông, cặp chân dài khiêu gợi. Thấy 2 gã đàn ông da vàng khệ nệ khiêng đống áo đi ngang, các nàng nhoẻn miệng cười đưa tay gởi một cái hôn gió. Thỉnh thoảng gã thợ phụ lại oang oang cái miệng nói với Duy:

- Ông nhìn kỹ con bé kia, hình như nó không mặc slip, su-chen gì cả, thấy hết ông ơi !

Nói tiếng Việt ở xứ lạ, chẳng ai hiểu, nên hai người tha hồ phát biểu văng mạng.

Các ông đi tìm gái cũng chẳng thiếu, các nàng vồ được ông nào thì ôm chặt, dắt ngay vào phòng ngủ. Mùa hè các nàng mặc quần áo mỏng tanh ngắn ngủn, mùa đông chỉ khoác cái áo lông to xù, bên trong trần như nhộng!

Hàng được đem đến, lão chủ thường là người Do Thái ra nhận, mặt lão khó đăm đăm, nhìn săm soi từng chiếc áo. Duy hồi hộp chờ, sau cùng lão gật đầu, thế là xong, nhưng không phải lần nào cũng suông sẻ như vậy, đã nhiều lần áo bị trả về vì may không đúng. Lúc khiêng đi đã nặng, bận vác về lại càng nặng hơn vì người khiêng đã quá mệt. Khi về đến hãng thì chủ thợ bực mình, người này đổ thừa tại người kia, gây lộn ầm ĩ, vì đã mất bao nhiêu công sức bây giờ lại phải gỡ ra từng cái sửa lại.

Thợ Thổ đều theo đạo Hồi, hàng năm đến lễ Ramadan họ phải nhịn ăn suốt ngày cho đến khi mặt trời lặn mới được ăn. Trong vòng một tháng như vậy, họ làm việc rất uể oải vì đói. Duy mới đến nên không biết Ramadan rớt vào tháng nào trong năm vì nó thay đổi tùy năm. Vào tháng này, Thủy cũng rầu lắm vì thợ may chậm hẳn đi.
Thợ đa số là thành phần nghèo bên Thổ, lưu lạc qua Pháp cố gắng kiếm tiền gởi về nuôi gia đình nên ăn xài rất tằn tiện. Tiệm may không có bếp, đi ăn nhà hàng thì đắt. Khi chưa có Duy, ngày nào họ cũng chỉ ăn trưa 1 ổ bánh mì với yaourt, jambon và cho rất nhiều hành, vì thế họ hôi hành lắm. Duy không thể nào nuốt nổi bánh mì mỗi ngày, bèn mua mì gói vào, chỉ cần nấu nước sôi đổ vào là đã có tô mì nóng hổi ngon lành. Mấy gã Thổ thấy vậy xin ăn thử, ăn xong họ thích quá vì mì gói ngon dễ nuốt mà lại còn rẻ hơn cả bánh mì jambon. Từ đó trong xưởng may lúc nào cũng có sẵn 2 thùng mì gói.

Làm việc cho cô em được hơn 6 tháng, tay nghề chẳng tiến bộ chút nào, Duy cũng đã từng ngồi vào bàn máy để tập may mãi, mà sao đường may vẫn cứ xiên xẹo như con đường mòn làng quê. Khó quá, Duy đổi qua vắt sổ, có lẽ giản dị hơn chăng? Nhưng sau vài lần, dù đã rất cẩn thận, Duy vẫn cắt phạm cổ áo, túi áo …..Cô em đành cho Duy trở lại vị trí cũ: đi giao hàng.

Cô em dù có thương Duy cách mấy cũng chỉ có thể trả chút đỉnh tiền phụ với tiền nhà nước trợ cấp cho. Thời gian qua mau, tiền trợ cấp có hạn. Ngày nào Duy cũng lại mua tờ báo, dán mắt vào các tin cần người. Cũng không thiếu việc nhưng ngày xưa ở VN Duy là kỹ sư, chuyên làm bàn giấy, lý thuyết suông, thực tập chưa được bao lâu thì chạy loạn.

Một hôm thấy tin cần nhân viên làm cho một khách sạn ở trung tâm Paris, không thấy đòi hỏi kinh nghiệm, Duy mừng thầm, sáng sớm đã dậy ăn mặc chỉnh tề để đến trình diện.

Khách sạn 4 sao thật lộng lẫy có 2 gã bảo vệ đứng trước cửa, sàn nhà trải thảm nhung đỏ rực, Duy ngồi đợi không lâu đã được mời vào văn phòng sếp nhân viên, sếp hất đầu hỏi :

- Anh là người Nhật ?

- Dạ, không.

- Thế anh người xứ nào?

- Việt Nam

- Có biết nói tiếng Nhật không?

- Dạ không.

Lão sếp gục gặc cái đầu hỏi tiếp :

- Anh đã làm bồi được bao nhiêu năm ?

- Dạ, chưa làm bao giờ.

- Ở Việt Nam anh làm gì?

- Dạ, em làm kỹ sư.

- Cám ơn anh nhé, ở đây chúng tôi cần người có kinh nghiệm làm bồi ít nhất 2 năm hoặc phải biết tiếng Nhật để đón tiếp các du khách Nhật.

Thế là Duy lại trở về nhà tiếp tục mua báo. Quyên chỉ cần nhìn mặt Duy, không cần hỏi, cũng biết kết quả.

Có một hôm, ông cậu Duy đến chơi, ông này ngày xưa đi du học bên Pháp nên ông có rất nhiều bạn, Duy bèn nhờ cậy.

- Cậu ơi, nhờ cậu giúp cháu tìm một việc làm.

- Vậy mày muốn làm gì?

- Làm gì cũng được vì cháu không có nghề gì cả.

- Ờ để tao coi!

Thấy ông cậu trả lời hờ hững, Duy cũng chẳng hy vọng gì, nhưng chỉ tuần sau, qua lời giới thiệu của ông ta, Duy được vào làm việc trong hãng của ông Hùng, bạn cậu. Ðó là một hãng chuyên chở bàn, ghế, tủ ..cho các trường học và văn phòng.

Ba tháng đầu đi làm về, ăn cơm xong là Duy lăn ra ngủ như chết, vì Duy chỉ là phu khuân vác bàn ghế. Suốt ngày khiêng cả tấn bàn, ghế, tủ, chất lên xe vận tải. Duy không to con và sức khoẻ thì thua xa các phu khiêng vác khác, phần đông là người da đen hay Rệp (tiếng lóng gọi dân Ả Rập), to lớn lực lưỡng, họ vừa khiêng vừa cười giỡn trong khi Duy mướt mồ hôi, sôi nước mắt, xong việc là chân tay mỏi nhừ đau nhức.

Mệt quá, Duy định xin thôi. Nhưng một ngày, sếp kho hàng bịnh phải nghỉ việc dài hạn, ông Hùng cho Duy làm thế ông ta, chỉ huy đám phu vì dầu sao Duy nói tiếng Tây vẫn khá hơn họ. Duy đã được đặt đúng vị trí, chỉ huy là nghề của kỹ sư mà. Công việc chạy ro ro, đám phu hỗn độn gần 30 người được giao đúng việc, hàng hoá, xe tải giao hàng đúng giờ, không còn trễ nãi như trước.

Sáng nào thợ cũng sắp một hàng dài trước văn phòng để đợi Duy phân việc. Làm sếp đám phu và nhất là làm sếp ở Pháp chẳng dễ chút nào, có muốn sai biểu họ điều gì cũng phải nói nhỏ nhẹ, không được la mắng, nếu không chúng kéo nhau đi thưa công đoàn thì sếp có thể mất việc như chơi. Nhưng có lẽ đã là kỹ sư nên Duy có oai, đám phu ngày trước lười biếng chỉ kiếm cách trốn việc để tán gẫu với nhau hay uống cà phê, sếp có khiển trách chúng cứ tỉnh bơ để ngoài tai, mà sao Duy chỉ cau mày, trừng mắt là chúng nó răm rắp nghe lời. Có một thằng lười nhất đám, hể không để ý là lủi xó nào không biết. Một ngày Duy bắt được tên này, trong khi mọi người đang làm việc nó vẫn nhởn nhơ uống café, Duy chẳng mắng tiếng nào mà nói với nó:

- Hôm nay anh mệt phải không ? vậy anh lại cái ghế ngay trước văn phòng tôi ngồi nghỉ đi.

Thằng này lấy làm lạ nhưng nghe lời ngồi đó, ngồi một lúc nó mới hiểu ra đó là cách trừng phạt của Duy, ai đi ngang cũng nhìn nó, xong tủm tỉm cười, nó mắc cở quá, cúi gầm mặt xuống và ngồi yên như vậy. Sao thời gian dài thế, ngồi đến trưa hết chịu nổi, nó năn nỉ Duy:

- Cho tôi đi làm việc nghe, ngồi hoài mệt quá !

- Không, anh cứ ngồi nghỉ đến hết giờ làm việc.

Sau hôm đó, thằng thợ tởn luôn, không còn trốn việc.

Ông Hùng thấy Duy chỉ huy giỏi quá và ông sếp cũ cũng đã chán đám phu cứng đầu, ông hiền quá chẳng đứa nào sợ, ông rất vui khi đổi việc cho Duy, chỉ còn lo giấy tờ.

Thế là Duy nghiễm nhiên thành sếp đám phu, không còn phải khuân vác.

Sau 3 tháng vất vả cực nhọc đến bây giờ Duy mới dám nói thật cho Quyên nghe. Làm việc bên Pháp có luật lệ đàng hoàng, khi làm sếp càng nhiều người, trách nhiệm càng nhiều và lương cũng được tăng xứng đáng.

****


Có lẽ thời vận đã đến, Quyên được chị Trinh nhận vào làm „Salon de Thé“, trở thành nhân viên chính thức của chị.

Nhưng đời Duy và Quyên còn lắm gian truân, đâu mà suông sẻ, mau vào khuôn vào nếp như thế được. Chấp nhận sang Pháp, không ở lại để chờ được bảo lãnh sang Mỹ như bố mẹ và anh chị Dương vì cá nhân Duy vốn không thích Mỹ, mặc dầu biết sang Pháp là cực khổ, là phải chống chỏi tự lập trong mọi phương diện nhưng Duy vẫn chọn.

Anh chị Trinh và Bernard chia tay nhau, đó là chuyện riêng của gia đình chị, Duy không dám và cũng không muốn xen vào. Từ ngày biết tin, Quyên cứ lo lắng đến áy náy „hay là vì tại chị giúp đỡ tài chính cho vợ chồng mình nên anh chị lục đục với nhau ?“. Duy không tin như thế, có lẽ chuyện sứt mẻ giữa anh chị đã có từ lâu, vì xét ra sự có mặt của vợ chồng Duy trong thời gian vừa rồi cũng không làm xáo trộn gì quá đáng cuộc sống của anh chị.

Chị Trinh bán được tiệm „Salon de Thé“ cho chủ mới, Quyên bị sa thải, nằm nhà ăn lương thất nghiệp. Hết Duy nằm nhà bây giờ đến phiên Quyên. Tiền nhà của hai vợ chồng không còn được anh Bernard cấp dưỡng, vì tiền cấp dưỡng cho hai em, anh cũng khai với chính phủ để trừ thuế. Nay anh chị chia tay nhau, của cải chia đôi, mỗi người sống một cuộc đời mới nên phần trả tiền nhà giúp đỡ vợ chồng em vợ cũng bị anh Bernard cúp luôn. Cũng là lẽ đương nhiên mà thôi. Duy không lấy thế làm buồn nên hết sức an ủi Quyên.

May thay, chị Trinh có quen thân với một ông chủ khách sạn thuộc hạng sang, nghe đâu có đến 4 hay 5 sao gì đó, ở Nice, một thành phố du lịch nổi tiếng ở miền Nam nước Pháp. Chị bảo „về đó, hai em may ra có rất nhiều cơ hội để vùng vẩy, chứ ở Paris, vừa đắt đỏ vừa đông đức, mình khó chen chân được. Có thể chị cũng sẽ dọn về đó, hai em cứ về trước. Quyên có nghề làm bếp, vào làm trong khách sạn hạng sang, sau này có cơ hội có thể đứng ra tự mở tiệm, thành phố du lịch mà….Duy về đó cũng dễ kiếm việc thích hợp hơn, chứ làm mãi với ông Hùng, chăn đám phu ngoại quốc, làm sao có tương lai được“.

Nghe chị Trinh phân tích và khuyến khích, sau mấy đêm bàn bạc, hai vợ chồng Duy quyết định theo lời chị. Đã bỏ nước ra đi thì ở đâu cũng là nhà, miễn sao trong lòng mình thoải mái, có được công ăn việc làm hợp với sở thích là nhất rồi. Nghề nào cũng là nghề. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh mà !

Hè năm đó, vợ chồng Duy lên đường về miền Nam nước Pháp…..
Back to top
View user's profile Send private message
vutruong



Joined: 08 Aug 2005
Posts: 1931

PostPosted: Thu Feb 04, 2016 8:31 am    Post subject: Reply with quote

Theo như Nghĩa, xã của MN, Dòng Đời của chúng mình đang " coma "
Laughing , cũng đã lâu quá, gần như tuyệt vọng, dù nhiều " bác sĩ " hứa sẽ cứu ! trong niềm hy vọng nàng sẽ hồi phục mình xin post một bài của MH, coi như em chợt tỉnh một lúc...để cùng bà con vui Tết !
Câu chuyện thật cảm động cũng phù hợp với phần vượt biên của chúng mình... Khi nào em tỉnh luôn sẽ lấy ra nhé.


CHUYẾN ĐI KINH HOÀNG


Những Món Nợ Ân Tình Không Bao Giờ Trả Được

Kính dâng lên hương hồn những thuyền nhân đã bỏ mình trên biển cả vì lý tưởng tự do. Xin Quý vị nào biết tin tức về Thuyền Trưởng người Anh tên là Brian O’ Connell và Thủy Thủ Đoàn của tàu Panama khoan dầu trên Biển Đông cách đây hơn 31 năm. Xin làm ơn giúp, để tôi có thể liên lạc, dù là muộn màng. Đây cũng là ước nguyện cuối đời của tôi. (PTD)
Cuộc đời chúng ta có những điều trôi qua, rồi tan biến như cơn gió thoảng. Tuy nhiên, có những điều mãi mãi in đậm trong ký ức, dù có muốn quên cũng không thể nào quên được. Đối với tôi, một trong những điều không thể nào quên và cũng là món nợ không bao giờ trả được, dù bây giờ tôi có tiền rừng, bạc biển chăng nữa!

Câu chuyện xảy ra đã hơn ba mươi mốt năm. Hôm nay tôi xin ghi lại những phép lạ, mà tôi may mắn được chứng nghiệm trong chuyến đi bảy ngày đêm lênh đênh trên biển cả, với nhiều biến cố hãi hùng và kinh dị. Nếu như không có bàn tay nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật cứu vớt thì 137 người đã cùng chết trong lòng đại dương trên bước đường đi tìm " Tự Do".


Chuyến đi rất bất ngờ, do hai ân nhân là anh Nguyễn Vĩnh Tôn và anh ruột là Nguyễn QuốcTrụ, cựu Đại Úy thuộc binh chủng Nhảy Dù Quân Đội VNCH bảo trợ cho tôi mọi chi phí được trả từ Hoa Kỳ.

Có lẽ vì đột ngột, nên tôi đã khóc suốt đêm và không thể nào ngủ được. Tâm trạng khác hẳn với những lần đi trước. Chưa ra đi mà trong lòng đã tràn dâng niềm thương nhớ những người thân yêu trong gia đình.

Khoảng 3 giờ sáng, ngày 23-9-1984, tôi đến thắp nhang bàn thờ Phật. Nguyện cầu cho chuyến đi được bình an, may mắn, tai qua nạn khỏi, không bị tù đày, nhất là đừng gặp hải tặc. Có như thế tôi mới có thể giúp được gia đình thoát được cuộc sống bế tắc, khó khăn như hiện nay. Tôi cầu nguyện sức khoẻ, bình an, may mắn đến cho bố tôi đã già yếu, bệnh tật, cùng các anh chị em và một người tôi gọi là Cô đang sống đơn chiếc (đúng ra là Dì vì là em ruột của mẹ tôi). Cô đã đùm bọc, giúp đỡ gia đình chúng tôi rất nhiều kể từ khi Mẹ tôi bất ngờ ra đi vì quá đau khổ và lo sợ cho ngày mai đen tối của một gia đình mà hầu hết là quân nhân, công chức của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, sau biến cố 30-4-1975.

Và trong chuyến đi này, tôi cũng có thêm một lời nguyện cầu:Tôi sẽ tái ngộ một“Thiên Thần” đang chờ đợi tôi với một tấm lòng trong sáng và cao quý.

Lúc 3giờ 45 sáng.Tôi đánh thức cô tôi dậy. Cô cũng vừa mới chợp mắt được một chút. Tôi cố giữ thật bình tĩnh chào từ giã cô để cho cô được yên tâm. Trong gia đình và bà con thân thuộc chỉ có cô lúc nào cũng bên cạnh tôi và là người duy nhất biết tôi sắp đi xa, mà chuyến đi này lành thì ít, nhưng dữ thì quá nhiều không thể nào lường được. Ngoài ra, cần phải giữ bí mật vì sơ xuất sẽ gặp những điều nguy hiểm có thể xảy ra.

Đúng 4:00 giờ sáng, nhìn qua khe cửa sổ, tôi thấy đèn từ một chiếc Honda gắn máy chớp đi, chớp lại bốn lần trước cửa nhà. Đây là tín hiệu mà tôi đã được cho biết trước: Có người trong nhóm tổ chức sẽ đến đón tôi.

Tôi lặng lẽ, nhẹ nhàng mở cửa. Tay ôm một túi xách nhỏ gồm: một ít lương khô, một bộ quần áo cũ, vài tấm ảnh gia đình, một quyển kinh loại bỏ túi “Bạch Y Thần Chú” do bác tôi cho. Bác căn dặn phải thường xuyên khấn niệm để cầu xin bình an; và một sợi dây chuyền có hình con chim Đại Bàng đang xoè cánh do một người bạn tặng tôi từ lâu.

Tôi luôn mang theo trong người vì biết người ấy luôn luôn cầu nguyện cho tôi được may mắn. Đối với tôi, đó cũng là một biểu tượng "thần thoại." Tôi sẽ được chim Đại Bàng mang tôi đến vùng trời mơ ước.Tôi cũng bỏ theo một bình nước nhỏ, tuy rằng, người của tổ chức dặn đừng mang theo gì hết vì họ đã chuẩn bị tất cả đâu vào đó rồi.

Ngồi sau lưng người lái Honda mà tôi hoàn toàn không hề quen biết, tôi hơi lo sợ. Ngoái cổ nhìn lại con hẻm nhỏ thân yêu của một xóm nghèo gần ngã ba Cao Thắng và Trần Quốc Toản, Sài gòn.

Giờ này hầu như mọi người đang yên giấc. Tôi chào vĩnh biệt trong nước mắt căn nhà mà gia đình tôi nương náu gần mười năm qua. Nơi đây bố tôi đã đưa cả gia đình về sống, sau khi trả lại căn nhà do chính phủ VNCH cấp cho công chức chỉ trước biến cố 30/04/1975 vài tháng. Nếu còn tiếp tục ở lại căn nhà đó thì không biết gia đình tôi sẽ gặp khó khăn biết chừng nào, khi người ta đến tiếp thu và yêu cầu gia đình tôi phải ra khỏi trong vòng hai mươi bốn giờ.

Tài xế Honda chở tôi ra bến xe miền Tây. Tại đây có một ngưòi đàn ông đội nón đen đã đứng chờ sẵn, ông ta trao vé xe đò đã mua từ trước để tôi lên xe đi Mỹ Tho. Khi đến Mỹ Tho, tôi được một người đàn ông khác hướng dẫn chuyển xe đi tiếp Bến Tre. Đến nơi, khoảng giữa trưa, tôi cùng mấy người đã tới trước cùng ngồi ăn với nhau. Tôi nghĩ họ là những người sẽ cùng đi chung chuyến vượt biên với tôi.

Sau khi ăn trưa xong, tất cả được mời lên xe Lambretta ba bánh để chở ra bến đò gần đó. Tại đây, người ta chia chúng tôi ra từng nhóm xuống những chiếc ghe nhỏ chở đầy trái cây để ngụy trang mà dân vượt biên còn gọi là “Ghe Taxi, hay “Cá Nhỏ”, để tránh những trạm kiểm soát dọc bờ sông, hoặc đột xuất có thể chận lại khám xét bất thình lình.

Ghe đi được một lúc thì nhóm tổ chức phát cho mỗi người một miếng giấy nhỏ, với mật mã do nhóm tổ chức ghi trên đó. Cho đến chiều thì ghe tấp vào một bụi rậm ven sông để chờ đợi. Khi bóng đêm vừa bao trùm xuống, ghe lại tiếp tục đi thêm một khoảng khá xa. Tại đây đã có một ghe lớn neo sẵn, còn gọi là “Cá Lớn.” Đây là ghe sẽ đưa chúng tôi ra đi trên biển cả.

Lúc này đã có nhiều ghe nhỏ đang vây quanh và mọi người cùng một lúc đang tìm mọi cách để leo lên Cá Lớn, nên vô cùng hỗn loạn. Phụ nữ, trẻ em đứng trên vai những người đàn ông hay thân nhân để vịn vào thành ghe, sau đó nhảy lọt được vào cá lớn. Trước cảnh đó, tôi chỉ muốn bỏ cuộc, vì nghĩ rằng tôi không thể nào đủ sức để có thể tự nhảy lên bám được vào thành ghe, rồi sau đó leo vào bên trong.
Thời học sinh, tôi luôn luôn đứng cuối lớp về môn Thể Dục, đặc biệt là hai môn leo dây và nhảy cao thì yếu nhất. Bây giờ, nếu đứng trên mặt đất bằng phẳng, tôi cũng không thể nào làm nỗi, huống chi là phải bám vào thành ghe đang tròng trành trên sông nước. Tôi lại nhỏ con, thể lực rất yếu đuối; nếu chẳng may không vào được con cá lớn mà bị rớt xuống sông trong cảnh hỗn loạn và bóng đêm dày đặc này, chắc chắn một trăm phần trăm là chết đuối, vì tôi không biết bơi và cũng chẳng có ai can đảm cứu tôi trong lúc này. Nhưng nếu bỏ cuộc, có nghĩa là sẽ ở tù, vì tôi không thể tìm cách trở về nhà được trong lúc này nữa.

Tôi chỉ còn biết cầu xin Trời, Phật, Ông Bà khuất mặt hãy cứu vớt: “Con không thể đi tù thêm lần nữa! Con không thể nào chết. Con phải đi thoát được thì con mới có cơ hội giúp gia đình. Tất cả đang trông vào con. Gia đình con không có điều kiện tiền bạc để cho con vượt biên. Nay có quý nhơn giúp đỡ, con chỉ cần quyết tâm, chấp nhận gian nguy là đạt được. Trời Phật có thương con, phù hộ cho con thì con sẽ vượt qua.”

Tôi đã có kinh nghiệm trong lần vượt biên ở Cần Giờ bị bắt vào năm 1981 và ở tù trong Chí Hoà, sau đó bị đưa đi lao động ở Sông Bé.

Chỉ trong vài phút thôi, Cá Lớn sẽ nhổ neo. Không bao giờ tổ chức vượt biên đợi người lên đầy đủ mới ra đi.

Tôi không thể do dự hay chần chờ gì nữa! Phải quyết định tức khắc. Tôi vừa khóc, vừa niệm Phật, vừa cố lấy hết sức nhắm vào thành Cá Lớn, tung hết sức bình sinh nhảy thật cao, thật chắc. Ôi! thật là may mắn! Tôi bám được vào thành ghe.
Ôi! Tôi đã lọt thỏm vào Cá Lớn. Phải chăng có một sức mạnh vô hình nào đã nhấc bổng tôi lên, để tôi được vào khoang ghe, vì bình thường tôi không bao giờ có thể làm nỗi điều này.
Chưa kịp đứng lên thì đã bị một số người nhảy tiếp sau đạp và đè lên khắp người. Tôi lại tiếp tục niệm Phật giúp tôi có đủ sức đứng dậy; nếu không tôi sẽ bị chết bẹp ở đây. May sao! tôi đứng dậy được và nép sát người vào thành ghe.

Chưa kịp hoàn hồn, nghe tiếng hét to: “Không ai được lên nữa! Ghe đã quá trọng tải. Nếu còn tiếp tục nhảy lên, ghe sẽ bị lật và chìm, tất cả mọi người sẽ chết tại giòng sông này.”

Ngay sau đó, người của tổ chức bật đèn pin sáng lên để bắt đầu kiểm tra mật mã. Một số người trình mất mã, nhưng họ cho là không đúng và ra lệnh quăng những người này xuống những chiếc “Ta Xi” vẫn còn đang bao quanh con"Cá Lớn"chờ đợi.

Khi đến chỗ tôi đứng, tôi rất tự tin trao mảnh giấy ra cho họ xem. Vừa đọc xong, họ nói "Đây là mật mã của Ba Châu (tên người liên lạc dẫn tôi đi.)
Chúng tôi không chấp nhận khách của Ba Châu. Vậy xin mời cô trở xuống ghe taxi đi về."
Nghe đến đây, tôi tưởng chừng như tiếng sét đánh ngang tai, chân tay rụng rời. Làm sao lại xảy ra như vậy? Khách nào của Ba Châu cũng đều bị tai hoạ bất ngờ vì sự bất đồng và phản bội trong nội bộ tổ chức với nhau.

Nghĩ lại, nếu không nhờ phép lạ thì làm sao tôi lọt được vào cá lớn, rồi sau đó đứng dậy an toàn được. Vậy mà bây giờ bị đuổi xuống và chắc chắn sẽ lại bị ở tù.

Không thể được! Tôi bật khóc và năn nỉ "Tôi cũng là khách như những người khác, nhưng chẳng may là khách của Ba Châu. Gia đình tôi đã thoả thuận mọi điều kiện cho chuyến đi qua Ba Châu. Nay xin các bác, các anh cho tôi được tiếp tục đi. Gia đình tôi ở Mỹ sẽ đền ơn theo mọi điều kiện yêu cầu của quí vị."
Khóc lóc, van nài, nhưng họ vẫn một mực dứt khoát từ chối. Hai người đàn ông được lệnh khiêng đầu và chân tôi quăng xuống ghe taxi. Tôi coi như chắc chắn vào tù. Trong lòng quá đau xót và coi như số tôi phải vào tù không thể nào tránh được.
Bỗng nhiên, ánh sáng đèn pin vụt tắt. Hai người đang khiêng tôi bèn bỏ tôi xuống sàn ghe. Cá Lớn được lệnh phải xả hết tốc lực phóng ra biển. Có lẽ thời gian mua bãi đã hết, nếu chậm trễ toán công an biên phòng khác đến đổi phiên trực có thể giữ ghe lại? Tôi bàng hoàng mừng rỡ; chỉ trong tích tắc tôi đã thoát được cảnh ngục tù. Phải chăng cũng là một phép lạ do Ơn Trên đã cứu tôi?

Chiếc ghe nhắm hướng ra biển lao như mũi tên bay trong bóng đêm dày đặc nghe rợn cả người.

Chạy khoảng hơn bốn tiếng đồng hồ thì có những tiếng reo mừng:"Ghe đã ra được Hải Phận Quốc Tế. Chúng ta coi như sắp được tự do rồi.”

Vừa nghe xong, tôi oà lên khóc nức nở, dù trong lòng cũng mừng. Vì từ giờ phút này tôi đã thật sự xa tất cả những người thân yêu. Không biết đến bao giờ mới có thể gặp lại, hoặc xa lìa vĩnh viễn; nếu như gặp nạn không tới được bến bờ.

Lúc này nhóm tổ chức bắt đầu quay lại hạch sách những hành khách của Ba Châu đang có mặt trên ghe. Họ doạ nạt từng người. Ai có cà rá, đồng hồ hay bất kỳ vật nào có giá trị thì đưa cho họ ngay. Khi họ hỏi tôi có gì đưa cho họ, tôi trả lời không có gì hết, ngoài một ít hành lý tôi đang có trên người. Thật ra, tôi có giấu một chỉ vàng trong áo lót được cô tôi cho để phòng khi hữu sự. Tôi không thể nào nộp cho họ.Tôi năn nỉ với họ là khi nào được định cư, tôi hứa sẽ xin hoàn lại đầy đủ.

Trời lại dần dần sáng. Một ngày mới bắt đầu trên đại dương bao la. Tất cả đều vui mừng và hy vọng vài ngày nữa sẽ đến được bất cứ trại tị nạn nào và sau đó được đi định cư ở một nước thứ ba; lúc đó coi như đổi đời. Khi mặt trời lên cao, nắng chói chang, có lẽ là giữa trưa, nhóm chủ ghe bắt đầu cho phân phối nước uống. Tiêu chuẩn cho mỗi người là hai muỗng canh, phát vào buổi sáng và vào buổi chiều.

Điều này khiến mọi người trên ghe hoang mang. Vậy là sao? Lúc đi đã hứa lương thực, nước uống cung cấp đầy đủ. Bây giờ lại xảy ra tình huống kỳ quái này! Có chuyện gì đây?

Lúc này, chủ ghe mới cho biết là anh tài công chánh mang theo các phương tiện đi biển đã bị kẹt lại, không hiểu vì lý do gì mà không lên Cá Lớn được? Nên chúng ta khó hy vọng sẽ đi đến được các trại tị nạn như đã dự tính, vì trên ghe không ai có kinh nghiệm đi biển. Tài công phụ chỉ có kinh nghiệm đi đường sông. Bây giờ chỉ còn trông mong vào số mệnh và ơn trên cứu giúp. Phải lênh đênh trên biển không biết bao nhiêu ngày. Cầu xin sóng yên, biển lặng và gặp tàu thuyền nào đi ngang qua xin được cứu vớt, như vài trường hợp các ghe đi trước may mắn đã gặp. Bây giờ, xin các bà con thông cảm về việc cần phải tiết kiệm nước tối đa để có thể cầm cự trong thời gian dài chưa biết đến khi nào.

Khi nghe chủ ghe giải thích xong, mọi người trên ghe cùng nhìn nhau lo lắng.

Riêng tôi chết lặng cả người. Bao nhiêu tin tức về chuyện vượt biên lởn vởn trong đầu óc tôi. Có những chuyến, nếu may mắn không có gì xảy ra thì chỉ vài ba ngày là đến được trại tị nạn. Có những chuyến lênh đênh cả tháng trời bị các cơn đói khát, bệnh tật hành hạ. Đôi khi phải ăn thịt lẫn nhau để được sống còn; và cũng có những chuyến bị hải tặc tấn công cướp bóc, hảm hiếp và những phụ nữ bị bắt đem theo chúng. Biết bao là những bi kịch thảm khốc về chuyện vượt biên mà các cơ quan truyền thông đã đăng tải.

Tôi nghĩ số phận chíếc ghe của chúng tôi sẽ trôi giạt về đâu? Bến bờ vô định nào? Lương thực, nước uống, xăng nhớt sẽ cạn kiệt trong bao lâu nữa? Và cũng có thể làm mồi cho đại dương. Tôi có đạt được sự đổi đời như mơ ước, được sống và học hỏi ở các nước văn minh, dân chủ, tự do. Lúc đó tôi sẽ có điều kiện để giúp đỡ gia đình đang tin tưởng vào nơi tôi.

Hoặc tôi tự trách mình đi tìm một cái chết ngu xuẩn, làm cho gia đình đau khổ hơn và mang tội bất hiếu với bố tôi. Trước mắt, tôi cứ niệm Phật, cầu nguyện cho được may mắn. Mà rõ ràng tôi đã thoát chết từ lúc nhảy vào được cá lớn, và chút xíu nữa đã bị chủ ghe ném xuống "taxi", nếu không có báo động bất ngờ xảy đến.

Bóng đêm lại buông xuống, tôi mệt đừ và khát rát cả cổ họng. Phải chờ đến ngày mai mới được phát nước uống. Tôi nghĩ mình có đem theo bình một lít nước. Nếu mỗi ngày uống hai muỗng thì tôi có thể cầm cự được trên nửa tháng. Thế là tôi lấy ra hớp một hớp. Chưa kịp cất lại thì vợ chồng trẻ và cô em gái ngồi kế bên thấy tôi cầm bình nước thì van xin cho họ uống bằng giọng nói lễ phép và lịch sự.
Tôi nghĩ cho ba người uống thì nhiều quá, nó sẽ ảnh hưởng đến số nước dự trữ của tôi và cũng là bùa hộ mạng trong lúc này. Nhưng thấy họ nói quá, nên động lòng trắc ẩn.Tôi trao bình nước cho họ và nói "xin mỗi người chỉ được một hớp thôi nhé!"
Tuy nhiên, khi cầm được bình nước trên tay, sau khi hớp xong, họ ngang ngược không chịu trả lại, mà còn giở giọng côn đồ ra thách đố tôi muốn làm gì thì làm! Vô tình tôi đã tự đánh mất bùa hộ mệnh vì lòng thương không đúng người.

Ngày thứ hai trôi giạt trên biển theo một hướng vô định. Cầu mong sẽ gặp đuợc tàu thuyền đi ngang qua giúp đỡ, hay phi cơ bay trên đầu để ra dấu kêu cứu.

Nhưng chỉ có cả một không gian tĩnh mịch, im lặng của đại dương lạnh lùng và ghê sợ. Trên bầu trời không có bóng dáng một loài chim biển nào. Mọi người đoán là ghe đã đi lạc và cách rất xa đất liền.

Tôi vừa đói, vừa khát, vừa nhức đầu, chóng mặt vì các mùi hôi thối của ói mửa, tiêu tiểu của trẻ con bắt đầu xông lên nồng nặc, vì chỉ có một chỗ đi vệ sinh nằm ở phía cuối ghe, trong khi người nằm, kẻ ngồi la liệt không còn chỗ để nhúc nhích.

Sự khủng hoảng bắt đầu khi cô bé khoảng mười lăm tuổi, ngồi đối diện tôi bị ngất xỉu vì khát. Mẹ của cô khẩn khoản, van xin “Ai có nuớc làm ơn cho con tôi xin một hớp; một hớp nước có thể cứu sống được con tôi”.

Không một ai lên tiếng! Có lẽ mọi người nhớ lại lời nhóm chủ tàu căn dặn và đe doạ “Không ai được tự động đi lại, phải tuyệt đối giữ gìn trật tự tối đa.

Không được đòi hỏi bất cứ gì! Nếu ai không chấp hành và cãi lời sẽ bị ném ngay xuống biển.” Nhìn mặt cô bé nhợt nhạt vì khát, chỉ cần một muỗng nước là có thể đem lại sự sống cho cô ta. Không thể đành lòng nhìn cô bé đang bất động, dù kiệt lực, tôi cũng cố gắng bò lên cầu thang để gặp nhóm chủ tàu xin nước cho cô bé. Họ nhìn tôi bằng cặp mắt giận dữ. Tôi bình tĩnh nói với họ là tôi không xin cho tôi mà xin các ông hãy nhỏ lòng thương cho cô bé kia đang cần vài muỗng nước. Nếu không, cô ta sẽ chết vì khát!
Quả thật, khi được vài muỗng nước thì cô bé lần hồi tỉnh lại. Gia đình cô rất vui mừng và tôi cũng vui theo.

Ngày thứ ba, biển vẫn yên, sóng vẫn lặng. Đúng là Thái Bình Dương! Tuy nhiên, trong lòng mọi người đều bồn chồn, lo lắng. Sự đói khát đã bắt đầu hoành hành. Ánh nắng mặt trời chiếu xuống, thì cô bé lại kiệt sức và bất tỉnh lần nữa.

Gia đình cô bé không dám gặp chủ tàu xin nước vì sợ chủ tàu nóng giận thì sẽ bị phiền phức. Sự việc xảy ra trước mắt tôi, nên tôi cũng không thể làm ngơ. Và tôi cũng cố lết đi gặp chủ tàu xin cho cô bé vài muỗng nước. Sau khi được vài muỗng nước thì cô bắt đầu tỉnh lại dần như hôm qua.

Ánh nắng càng lúc càng gay gắt. Tôi tưởng chừng như sắp ngất xỉu đến nơi giống như cô bé vừa rồi.

May sao, có một cơn mưa trút xuống. Ôi! Tôi quá mừng như vừa được hồi sinh. Những giọt nước mưa như nước cam lồ của Phật Quan Thế Âm làm mát dịu cổ họng đang rát bỏng của tôi.

Nhóm chủ tàu chạy đi lấy mấy tấm bạt Nylon để hứng nước mưa, xong đổ vào những thùng nhựa.

Kết quả không ai có thể thể nào uống được vì những thùng chứa nước mưa trước đó dùng đựng nhớt, xăng dầu, làm cho nước mưa có mùi giống như nước cống rảnh, đen ngòm cho vào miệng bị nôn ra ngoài ngay. Nhờ cơn mưa bất chợt coi như một phép màu đã tiếp sức cho tôi sống còn.

Sang đến ngày thứ tư lênh đênh trong vô định. Giấc mơ tìm tự do có dấu hiệu tốt đẹp hơn. Đã thấy những cánh chim biển bay trên bầu trời, thấy những vệt khói dài của vài chiếc phi cơ phản lực để lại. Bóng dáng những chiếc tàu nhấp nhô từ xa đang tiến lại gần hơn. Chủ ghe cho người đốt quần áo để phát tín hiệu xin tiếp cứu. Nhưng tất cả đều vô ích. Không một tàu nào đến gần để giúp đỡ. Có lẽ họ sợ lãnh trách nhiệm và gặp nhiều phiền toái?

Thế rồi, thất vọng này, tiếp nối theo thất vọng khác. Những cơn đói khát dày vò cơ thể. Tôi bị khát rang cả cổ, nên không thể nào nuốt được bất cứ gì. Thức ăn mang theo tôi đều cho hết. Trong lúc này tôi chỉ cần một hớp nước. Nhưng nếu tôi xin chủ tàu, chắc chắn ông ta sẽ cho người quăng tôi xuống biển như lời ông ta đã hăm doạ. Trong lúc đó gia đình chủ tàu có nước, có dừa, có cam quýt tha hồ sung sướng không sợ đói khát. Vài người trên ghe có sáng kiến mưu sinh thoát hiểm.

Họ lượm các vỏ dừa ném bừa bãi dưới ghe, đem tướt những lớp xơ để ngậm lấy chất đắng, chát và có độ ẩm để giữ cho cổ họng đỡ phần nào cháy bỏng vì khát. Nhờ vậy mà chúng tôi vẫn tiếp tục cầm cự, chưa bị gục ngã.
Cô bé trước mặt tôi lại ngất xỉu lần thứ ba trong ba ngày liên tiếp. Tôi nhờ cơn mưa hôm qua được hồi sinh, nay nhờ ngậm thêm xơ vỏ dừa, nên cũng có thể bò lên cầu thang xin nước cho cô bé.

Không may, ngày hôm nay nhóm chủ tàu cương quyết từ chối. Họ lấy cớ là muốn sự công bằng cho mọi người. Trong vòng 30 phút cô bé cứ lập đi, lập lại: “cho tôi nước, cho tôi xin nước, nước, nước."Tôi thấy tội nghiệp và đau lòng qua, cầu mong cho mưa xuống ngay bây giờ. Ôi! Tôi không tin vào mắt tôi. Cô bé nấc lên, đảo một vòng mắt và rồi nhắm nghiền lại và bất động. Ngưòi Mẹ hét lên “Cứu con tôi, con tôi chết rồi.” Tất cả mọi người đều sửng sốt. Nghe la, nhóm chủ tàu vội vàng chạy xuống đem theo nước đổ vào miệng cô bé. Nhưng vô ích! Cô bé đã bất động và không bao giờ cần xin nước nữa! Mẹ cô, anh em trong gia đình khóc nức nở. Mọi người, kể cả nhóm chủ tàu cũng đều xúc động. Có lẽ họ đang hối hận về sự sai lầm của họ, khi không cho cô nước như hai ngày vừa qua. Nhất là đã không giữ lời hứa lo cho khách lương thực đầy đủ trong mười ngày.

Mới có ngày thứ năm, đã có người chết vì không được cung cấp nước. Với tình trạng con thuyền trôi vô định không biết đi về đâu? Dù biển yên, sóng lặng cũng sẽ chết dần, chết mòn, chứ đừng nghĩ chi đến sóng to, gió lớn. Lần đầu tiên, tôi thấy bóng tử thần đang chập chờn. Mọi người vừa xúc động, vừa lo sợ sẽ có thêm nhiều người kiệt sức, trước khi đến được “bến bờ Tự Do”.

Nắng đã bắt đầu tắt, hoàng hôn đang dần xuống. Nhóm chủ tàu quyết định "thủy táng cô bé". Họ kêu gọi bất cứ ai tùy theo tôn giáo của mình cầu nguyện cho cô bé. Không có ai hết! Tôi không hề đi lễ chùa, không biết gì về nghi thức tụng niệm.

Nhưng từ những năm sau 30/04/1975, tôi đã sống triền miên trong nước mắt, chỉ biết đêm ngày cầu nguyện Trời Phật cứu vớt cho gia đình đang tan nát vì cha và anh lâm nạn, trong khi Mẹ qua đời và các em còn quá nhỏ dại.

Những năm gần đây, có những quý nhân giúp tôi vượt biên. Trong người tôi luôn luôn mang theo quyển kinh “Bạch Y Thần Chú” để cầu nguyện. Biết rằng đây không phải là kinh cầu siêu. Nhưng tôi cảm thấy có thể làm người mất đi được ấm áp, nên tôi tình nguyện đứng ra thắp nhang tụng niệm. Mẹ của cô bé cho tôi biết tên em là Tuyết Nhiên (tôi không còn nhớ họ). Sau khi thắp nhang do chủ tàu mang theo đưa cho. Tôi lăm răm tụng niệm. Sau đó, hai người đàn ông đến gần xác cô bé, người đỡ đầu, kẻ khiêng chân đẩy xác cô bé xuống biển, trong tiếng khóc nghẹn ngào của người Mẹ và anh em trong gia đình. Tôi cũng không cầm được nước mắt, thương tiếc cho cô bé hồn nhiên ngồi trước mặt tôi năm ngày qua. Hôm nay em đã đi vào lòng đại dương chỉ vì nhóm tổ chức đã tàn nhẫn bội ước.

Tôi chợt rùng mình:"Nếu không có cơn mưa nhiệm mầu hôm qua, thì nguời đầu tiên bị Thủy Táng đã là tôi.” Vì có lẽ không ai dám gặp nhóm tổ chức để xin nước cho tôi được hồi sinh thêm vài ngày như Tuyết Nhiên.

Sự xúc động vẫn chưa nguôi, thì nghe tiếng xôn xao"Máy ghe bị hư rồi, tự nhiên máy ghe bị tắt, không biết làm cách nào đễ cho ghe di chuyển.Vậy, bà con nào biết gì về sửa chữa máy móc làm ơn giúp để cho ghe có thể đi tiếp." Một vài đàn ông, thanh niên đi tới chỗ đầu máy loay hoay sờ tới, sờ lui, nhưng chẳng mang lại kết quả gì! Chiếc ghe vẫn không thấy động đậy.

Sau đó một hiện tượng kỳ lạ mà tôi chưa bao giờ thấy trong đời đã diễn ra trước mắt tôi và mọi người: Tự nhiên, một số người đứng dậy nhốn nháo làm chiếc ghe tròng trành, nghiêng qua, nghiêng lại. Nhóm tổ chức hét lớn lên:“Xin bà con hãy ngồi yên, nếu còn tiếp tục ghe sẽ lật úp và mọi người sẽ chết hết.”Tôi kinh ngạc nhìn thấy vài người lần lượt sắc mặt trở thành đờ đẫn, mắt ngây dại và miệng thì thào: “Nước, cho tôi xin nước.” Đúng là ánh mắt và câu nói liên tục của Tuyết Nhiên trước khi ra đi.

Đang nghĩ như vậy thì một cô gái trẻ ngồi cạnh tôi mấy hôm nay, cũng từ từ đổi sắc mặt và lập lại đúng câu đó, giống như những người kia.

Tôi vốn dĩ rất nhát. Sau khi Mẹ tôi mất, tôi không dám đi ngang bàn thờ Mẹ một mình. Vậy mà lúc ấy, trước ánh mắt kỳ quái của cô ta, tôi không hốt hoảng chạy đi tìm chỗ khác như người ta. Tôi nghĩ ngay lập tức:"Đúng là hồn của Tuyết Nhiên nhập vào cô này rồi.”

Tôi bình tĩnh, nghiêm trang nhìn thẳng vào ánh mắt đờ đẫn, kỳ quái của cô ta và nói: “Tuyết Nhiên, em có sống khôn, thác thiêng Xin em hãy tha thứ cho những ai đã sai lầm không cho nước để em được hồi sức. Em hãy phù hộ cho Mẹ, cho anh em của em và bà con trên ghe đuợc an toàn, không bị nguy hiểm đến tính mạng.

Nguyện cầu Trời, Phật, Chư Thiên Thánh Thần và Thủy Thần cho hương linh em được siêu thoát về cõi vĩnh hằng.Tôi niệm: “ Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát ba lần.” Thật là quá ngạc nhiên! Chỉ trong vài phút sắc mặt cô ta trở lại bình thường và không nhớ mình vừa nói những lời cuối cùng của Tuyết Nhiên như vài người khác mà cô thấy trước đó.

Càng lại ngạc nhiên hơn là vài phút sau đó có nhiều tiếng reo mừng:" Ồ, máy ghe đã nổ lại được rồi, ghe từ từ chuyển động và đi tiếp.”(Hai hiện tượng này không thể giải thích theo khoa học được và coi như hoang tưởng. Nhưng tất cả là sự thật một trăm phần trăm, mà cho đến nay tôi vẫn còn thắc mắc về sự kiện này.)

Không khí ảm đạm và đau buồn, kèm theo sự lo lắng, sợ hãi lại tiếp tục phủ trùm những thuyền nhân trên chiếc ghe đang di chuyển trong vô định. Hôm nay đã bước vào ngày thứ năm giữa đại dương bao la. Tôi nhớ là ngày 28 tháng 09, năm1984.

Tất cả mọi người gia tăng sự lo lắng và hoang mang, nôn nóng cầu mong gặp đuợc bất cứ tàu thuyền nào đi ngang qua cứu. Sức chịu đựng càng ngày, càng mỏi mòn, kiệt quệ, tinh thần suy sụp! Làm sao có thể cầm cự được lâu dài? Tùy theo tôn giáo riêng của mình, mọi người cùng khấn nguyện đấng thiêng liêng, hiển linh phù trợ. Riêng tôi thì liên tục cầu nguyện Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát gia hộ. Thấp thoáng từ phía xa xa có vài bóng dáng những chiếc tàu đi ngang qua, nhưng sau đó biến dạng.

Thình lình, mọi người thấy một chiếc thuyền lớn xuất hiện và đang tiến dần về phía ghe của mình. Tất cả đều mừng rỡ và hy vọng gặp “Thần Hộ Mạng” đến cứu. Họ cho thuyền cặp sát ghe và quăng dây neo lên. Sau đó họ trèo qua ghe. Lúc đó tôi mới định thần và thấy năm người đàn ông đen như cột nhà cháy, râu ria rậm rạp, trên người chỉ mặc một quần xà lõn. Một người cầm súng dài. Tôi đoán có lẽ là tên cầm đầu? Bốn tên còn lại thì kẻ dao, người búa và mã tấu. Có tiếng xì xào “Chết mẹ rồi, gặp hải tặc là coi như xong đời.”

Tự nhiên, toàn thân thể tôi cảm thấy rụng rời. Ôi! Trời, Phật xin hãy cứu con! Con luôn ngày đêm nguyện cầu:“Đừng cho con gặp hải tặc. Nếu gia đình con đã đến lúc tận cùng, mạt vận. Con thà chết trong lòng đại dương, còn hơn rơi vào tay bọn hải tặc.” Lời nguyện cầu của con không được Trời, Phật chứng giám. Không lẽ con tới số rồi sao?Tim tôi đập vào lồng ngực thình thịch y như tiếng trống. Tôi tưởng chừng như trái tim văng ra khỏi lồng ngực và tôi sẽ chết ngay tại chỗ.

Bọn chúng trao đổi với nhau bằng tiếng Thái và ra dấu hiệu cho mọi người. Ai cũng đoán và hiểu là "Không được di chuyển hay động đậy. Nếu cãi lời sẽ bị quăng xuống biển ngay lập tức.” Thế là, chúng chia nhau đi lục soát từng người, tịch thu những gì quý giá mà chúng bắt gặp. Có cả trăm người bị chúng lục soát.Tôi và vài người khác không có gì đáng giá, còn đa số không ít thì nhiều đều bị chúng tước đoạt của cải. Tính ra chúng tịch thu cũng kha khá. Nhóm chủ tàu coi như bị thiệt hại nhiều nhất. Sau đó tên cầm súng mang các “chiến lợi phẩm” cướp được đem trở lại thuyền. Bốn tên hải tặc trên ghe dõi mắt nhìn theo hắn một cách chăm chú, hình như muốn xem tên đầu đảng cất giấu chiến lợi phẩm ở đâu?

Bình thường, tôi được ví yếu như con sên, chậm hơn rùa vì thể lực tôi rất yếu đuối. Tôi chỉ muốn càng xa bọn chúng càng tốt, dù chiếc ghe dài chỉ khoảng hơn mười thước. Lợi dụng cơ hội này, tôi vụt đứng dậy, lao thật nhanh về phía cuối ghe, rồi ngội thụp xuống giữa tiếng lao xao của vài người “Bà nội này tới số rồi, muốn chết sao? Con nhỏ này chắc muốn bị ném xuống biển!

”Ngay tức khắc, anh tài công ném cho tôi một cục nhớt đen thui và nói "Trắng quá, bôi ngay vào mặt đi." Tôi vội vã bôi ngay vào mặt mũi và khắp cả người. Vài cô ngồi bên cạnh nhao nhao kêu:"cho tôi xin cục nhớt với.”

Anh tài công lại ném tiếp vài cục nữa về phía các cô gái. Thấy thế bọn cướp giơ cao hung khí la hét, chửi rủa và bắt phải im lặng. May sao, tên đầu đảng vẫn chưa quay lại ghe, nên bốn tên hải tặc tiếp tục đưa mắt nhìn về phía thuyền của chúng. Lúc này, nhìn lại thì tôi đang ngồi đối diện với Mẹ Tuyết Nhiên, mà trước đó khi hồn Tuyết Nhiên nhập vào vài người thì họ đã sợ chạy đi tìm chỗ khác, do đó nhiều người không còn ngồi vị trí cũ nữa.

Lập tức, bà giao cho tôi đứa con gái út khoảng 2,3 tuổi và nói thật nhanh, giống như ra lệnh:"Cô hãy ôm cháu vào lòng ngay đi."Mấy cô ngồi bên cạnh tôi định giật đứa bé từ trên tay tôi.

Mẹ Tuyết Nhiên nói:"Yên ngay! Cô này là Dì ruột của cháu bé này.” Lúc này, bọn cướp qua tức giận, chúng dùng vũ khí đập mạnh xuống sàn ghe và xồng xộc tiến về phía cuối ghe đang ồn ào.

Tên cầm dao găm, gương mặt đầy thẹo, đen đúa, râu ria lổm chổm dùng cánh tay mặt xốc tôi đứng lên, khiến đứa bé đang được tôi bồng khóc thét lên và đưa hai tay bấu chặt vào người tôi. Tên cướp có vẻ hơi nao núng. Hắn đưa mắt thật nhanh nhìn đứa bé, rồi quay nhìn tôi. Thấy một phụ nữ có con quá dơ dáy, bẩn thỉu, trông thật gớm ghiếc, nên buông tôi ra. Sau đó bọn chúng đi lùng sục khắp ghe. Cuối cùng, bắt được năm cô gái trẻ, sạch sẽ, xinh đẹp. Chúng lôi xềnh xệch về phía thuyền của chúng, mặc kệ các cô vùng vẫy, kêu khóc thảm thiết, cùng với tiếng van xin, gào thét của thân nhân kẻ bị nạn. Trong số các cô bị chúng bắt mang theo có con gái chủ ghe mới 15 tuổi.

Người trên ghe bèn đặt cho tôi một biệt danh là “Người đàn bà bị hải tặc chê.” Trườc khi rút lui, bọn chúng ra lệnh mọi người phải im và dùng vũ khí đập mạnh xuống sàn ghe làm thủng vài chỗ.

Sau này, tôi được biết là nhóm tổ chức có mang theo vài cây súng để phòng thân, nhưng không dám chống cự, vì sợ nếu chống cự bọn hải tặc sẽ lên cơn điên và giết hết mọi người trên ghe. Do đó nhóm chủ ghe phải bó tay chịu trận, và đành đau lòng hy sinh ngay cả con gái của mình cho bọn hải tặc bắt mang đi.

Chiếc thuyền của bọn cướp biển đang xa dần. Mọi người trên ghe vẫn còn sững sờ vì vừa trải qua một biến cố quá kinh hoàng. Những tiếng khóc của thân nhân các cô gái bị bắt đi thật sầu thảm.

Tôi không biết mình đang tỉnh hay đang mê? Tôi đã thoát khỏi bàn tay hải tặc dễ dàng vậy sao?

Làm sao tôi lại có can đảm đứng dậy chạy về phía cuối ghe, trong khi bọn cướp ra lệnh ở đâu phải ngồi đó, không được nhúc nhích. Trời, Phật, hay hồn thiêng của bé Tuyết Nhiên đã nhấc tôi đứng dậy, đẩy tôi chạy về cuối ghe, để may mắn gặp lại Mẹ Tuyết Nhiên và được bà trao em của Tuyết Nhiên cho tôi bồng, cũng như tại sao anh tài công đã ném cho tôi cục nhớt và nói tôi bôi ngay vào người nhanh lên? Nhờ đó, tôi đã thoát khỏi bàn tay hung ác của hải tặc trong đường tơ, kẻ tóc.

Vậy là thêm một phép lạ đã cứu sống tôi. Mới có mấy ngày mà tôi đã suýt chết mấy lần. Liệu tôi còn sức và còn may mắn thêm lần nào nữa để được bến bờ tự do hay không?

Mọi người bắt đầu lao xao:" Tát nước ngay, tát nước ngay! Nước tràn vào ghe rồi!" Đàn ông, thanh niên cố gắng dùng các vật dụng do chủ ghe đưa, cố ra sức tát nước đang làm ghe bị khẳm vì những lỗ thủng trên sàn ghe do bọn cướp gây ra.

Ôi! Vừa không biết phương hướng, vừa chống chọi với đói khát, vừa lo hết nhiên liệu, vừa lo nguy cơ chiếc ghe sẽ bị chìm vì nước biển đang tràn vào.

Bây giờ, mọi người thật sự thấy tử thần càng lúc, càng trở nên gần hơn. Sự khủng hoảng càng gia tăng, nhưng vẫn cố hy vọng"còn nước, còn tát." Chiếc ghe cứ lê lết đi tiếp. Tôi vẫn tiếp tục niệm Phật cầu nguyện và thiếp đi trong sự hãi hùng chưa nguôi. Tôi lập đi, lập lại trong đầu:"

Con không thể chết được. Con là niềm hy vọng của gia đình. Con phải sống để cứu vớt gia đình đang trông mong vào con."

Chiếc ghe tiếp tục di chuyển từ từ trong tuyệt vọng. Ánh nắng chiều dịu tắt dần, từ xa bỗng rực rỡ ánh đèn sáng ngời như từ cái tháp khổng lồ trên mặt nước. Vài người mừng rỡ, la lên:" Có giàn khoan dầu ở phía trước. Hãy cố gắng hướng về phía đó. Hy vọng sẽ được vớt." Tôi chợt bừng tỉnh, nhìn những ánh đèn màu rực rỡ ở trên cao, ngày càng gần hơn, tôi tưởng như mình đang mơ khi được thấy cung điện của Thủy Thần trong một truyện thần thoại. Nghe tiếng reo mừng của mọi người trên ghe, tôi biết đây là sự thật!

Không phải là ảo tưởng hay trong mơ. Tôi tưởng chừng ngất lịm trong nỗi vui mừng tột độ, và muốn hét to lên:"Vậy là coi như thoát chết, sẽ được giàn khoan cứu vớt, sẽ được đến bến bờ tự do như đã cầu khẩn.Vậy là đã được Trời, Phật chứng giám, độ trì.”

Mọi nguời như được uống thuốc hồi sinh. Đàn ông, thanh niên ra cố gắng ra sức tát nước nhiều hơn, chiếc ghe dường như cũng đi nhanh hơn. Một lúc sau chiếc ghe đã đến được gần chiếc tàu khổng lồ treo cờ Anh Quốc với hàng chữ to PANAMA. Dù vô cùng vui mừng, nhưng tôi lại rơi vào tình trạng hôn mê vì đã kiệt sức từ lúc quá hãi hùng khi vừa thoát bọn hải tặc sáng nay.

Một lát sau, tôi mơ hồ thấy có người cho nước uống, nên tỉnh dậy, thì ra đó là vài ba thủy thủ của tàu Panama đang cho chúng tôi nước và một số thức ăn. Tôi nghe thoáng thoáng tiếng người nói “Có một cựu Trung Úy Quân Đội VNCH đã lên gặp Thuyền Trưởng xin được cứu vớt, nhưng ông ta từ chối. Và một cưụ Trung Tá hiện đang tiếp xúc với Thuyền Trưởng cũng để tiếp tục cầu xin cứu vớt."

Nhưng vài phút sau, ông Trung Tá trở lại ghe với nỗi buồn tuyệt vọng cho biết: “Thuyền Trưởng không thể nào cứu được, vì họ đang làm nhiệm vụ khai thác dầu hoả. Ông tặng ghe chúng ta một hải bàn và hướng dẫn đi về hướng trại tị nạn. Ông nói, trên đường đi sẽ gặp tàu của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc và họ sẽ cứu chúng ta.” Ai ai cũng đều thất vọng, nhưng cũng mừng vì đã có hải bàn và hy vọng sẽ có tàu đến cứu. Hiện giờ đã được cung cấp nước uống, thức ăn, một số quần áo; không như trước đây trong hoàn cảnh đói khát, vô phuơng hướng, vô tin tức và sống trong tuyệt vọng.

Tôi đang hồi tỉnh một chút thì lại choáng váng khi nghe tin không may này. Bất ngờ, có một thanh niên la to lên:" Trong chuyến đi này có một cô giáo dạy Anh Văn tên Duyên.Vậy cô Duyên có trên ghe không? Nếu có, sao cô không chịu lên gặp Thuyền Trưởng xin cứu giúp đi?"

Tôi đoán thanh niên này là Khánh, em vợ của anh Nguyễn Quốc Trụ. Khánh chưa hề gặp tôi, nhưng đã được anh Trụ dặn:" Hãy nhớ tìm cô Duyên, cô giáo dạy tiếng Anh đi trong chuyến này”. Mọi người lao xao la to theo: “Cô Duyên đâu? Cô Duyên đâu?” Tôi chưa kịp trả lời thì nghe tiếng xì xào:" Chắc cô ta bị quăng xuống “ghe taxi” hay bị hải tặc bắt đi theo rồi chăng?” Tôi không còn đủ hơi sức để lên tiếng, chỉ đưa tay vẫy vẫy. Có người nói:" Ồ! cái bà tưởng đã chết hồi sáng nay.”

Hai thanh niên còn khoẻ mạnh vội tiến về phía tôi, một người khiêng đầu, một người khiêng chân để đưa tôi lên thang dây, sau đó họ đặt tôi nằm trên sàn tàu. Chỉ vài phút sau, có một Bác Sĩ và vài thủy thủ vây chung quanh tôi. Họ cho tôi thở Oxy, tiếp theo cho uống một loại nước hay thuốc gì đó. Vị Bác Sĩ tiếp tục đo huyết áp, nghe tim, phổi và theo dõi. Ông nói tôi cứ thở tự nhiên. Được hít thở gió biển trong lành khoảng 15 phút, tôi thật sư tưởng mình đã được uống thuốc tiên “cải tử hoàn sinh” trong các truyện cổ tích. Tôi có thể trả lời các câu hỏi của Bác Sĩ bằng giọng nói rõ ràng, và xin được đứng dậy để được nói chuyện với Thuyền Trưởng cũng đang đứng tại đó.

Lần đầu tiên được đứng trên sàn tàu vững chắc, kiên cố, rộng mênh mông, mà trước đó chỉ được ngồi chen chúc như cá hộp trên chiếc ghe mong manh; rồi đói khát, lo sợ hãi hùng với bao biến cố cận kề cái chết. Nhìn những ánh đèn màu rực rỡ từ trên cao của giàn khoang giữa những màu sắc lung linh của mặt trời như một viên hồng ngọc trên mặt nước biển vào lúc hoàng hôn, khiến tôi tưởng mình đang ở Thiên Đàng. Nếu may mắn được Thuyền Trưởng cứu, cho lên chiếc tàu Panama, thì đúng như từ âm phủ được lên cõi Tiên.

Sau khi nghe tôi trình bày "Chúng tôi là những người ra đi từ miền Nam Việt Nam, đã bất chấp mạng sống, bất chấp hiểm nguy để đi tìm tự do bằng chiếc ghe bé bỏng, mong manh và hiện đang bị vô nước vì hải tặc đâm thủng." Vị Thuyền Trưởng lắc đầu, rồi buồn bã nói: “Tôi rất tiếc không thể cứu quý vị được.Trước đó đã có hai người đàn ông nói chuyện tôi về yên cầu này. Tôi đã giải thích lý do tôi không thể cứu được.

Thứ nhất: Chúng tôi đang khai thác dầu hỏa tại nước Malaysia này, chúng tôi không có đầy đủ phương tiện cứu nạn.

Thứ hai: Số người trên ghe quý vị phải hơn 100 người, chúng tôi lại càng gặp rất nhiều khó khăn để giúp đỡ. Tuy nhiên, xin quý vị đừng nên lo lắng. Hãy an tâm. Tôi đã cung cấp hải bàn để định phương hướng trên biển. Tôi đã hướng dẫn kỹ lưỡng đi về phía có trại tị nạn gần nhất, và tôi sẽ liên lạc với các tàu của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đang di chuyển gần đây đến để cứu quý vị. Các thủy thủ chúng tôi đã làm mọi cách để giúp quý vị rồi. Tôi nghĩ quý vị sẽ lên đường bình an.”

Đến đây, tôi lại thấy đầu óc quay cuồng. Từ lúc đầu tiên lọt vào được chiếc ghe Cá Lớn cho đến nay đã 5 ngày lênh đênh giữa đại dương trong tuyệt vọng. Nếu không có những phép lạ xảy ra, làm sao tôi còn sống sót đến giờ phút này. Ôi!Tại sao có thể như thế này? Phải cố gắng nài nỉ, van xin Thuyền Trưởng.

Tôi cố gắng trình bày với Thuyền Trưởng những biến cố hãi hùng, những nguy hiểm mà chúng tôi đã trải qua mấy ngày hôm nay như: không có người biết lái, nên chiếc ghe trôi vô dịnh, một cô bé đã chết khát và phải bị ném xuống biển, 5 thiếu nữ đã bị hải tặc bắt đem theo sáng nay. Trước khi rút lui bọn hải tặc đã làm thủng ghe, hiện phải tát nước để có thể cầm cự, sống còn. May mắn đã gặp giàn khoang của các ông. Bây giờ chờ được tàu của Cao Ủy LHQ đến cứu, có lẽ tất cả chúng tôi sẽ làm mồi cho biển cả không bao lâu nữa.

Thuyền Trưởng lộ vẻ xúc động, nhưng lại trấn an tôi: “Bây giờ đã có phương hướng, và sẽ có tàu của Cao Ủy LHQ đến cứu, quý vị đã có đủ lương thực và nước uống trong vài ngày nữa, xin cứ an tâm”.

Chỉ nghĩ khi tôi trở về chiếc ghe mong manh, chật ních, ngột ngạt vì bao nhiêu mùi hôi hám cũng đủ chết. Trên ghe ai có đủ khả năng biết xử dụng hải bàn để lái cho đúng hướng? "Sai một ly sẽ đi một dặm” giữa đại dương thì cũng sẽ lạc hướng, tiếp tục trong vô định. Thêm vào đó tình trạng chiếc ghe bị đục thủng thì làm sao cầm cự cho đến khi gặp được tàu của Cao Ủy LHQ?

Đứng trên sàn tàu kiên cố này, tôi thấy rõ rằng. Đây là đất sống. Chiếc ghe mong manh kia là miền đất chết. Tất cả sẽ đi vào cõi chết nếu như không được lên tàu Panama này. Giờ phút này gặp giàn khoang mà không được cứu, thì đúng là số tôi phải chết dưới lòng biển rồi. Tôi lặng người khẩn cầu Trời, Phật: “Gia đình con thật sự đã đến lúc tận cùng mạt vận, nên con đã thoát khỏi tay hải tặc, nhưng phải chịu chết dưới lòng đại dương như đã khấn nguyện chăng? Tại sao Trời, Phật đã ra tay cứu con thoát khỏi bao nguy hiểm từ lúc ban đầu, mà nay phải bắt con chết tức tửi, giữa lúc tưởng rằng thật sự thoát mọi hiểm nguy? Tại sao? Tại sao? Nguời cha già, cả một đời là công chức hiền lương cuối cùng phải lâm nạn; các em thơ dại đã chịu đựng quá nhiều đau khổ trong bao nhiêu năm, nay sẽ càng đau thương hơn?”

Con phải sống. Con chỉ có ước nguyện giúp cha già, các em dại ra khỏi đường hầm, đen tối của đau khổ, và con cầu xin được gặp lại một “thiên thần” đang tha thiết chờ đợi con. Nhưng giờ phút này, tôi thấy thật sự hoàn toàn tuyệt vọng rồi, nên nước mắt đầm đìa, ngước nhìn Thuyền Trưởng khẩn khoản trong nghẹn ngào.

"Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người xin kính chào Vĩnh Biệt. Vì tôi tin chắc rằng giờ phút tôi rời khỏi nơi đây, trở về chiếc ghe bất hạnh, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Chiếc ghe đã bị đục thủng và đang bị vô nước trầm trọng thì làm sao chúng tôi có thể có cơ hội gặp được tàu của Cao Ủy LHQ cứu như lời Thuyền Trưởng nói. Xin Vĩnh Biệt Thuyền Trưởng!”

Sau lời chào vĩnh biệt đầy nước mắt trong nỗi tuyệt vọng của tôi, Thuyền Trưởng xúc động thật sự. Ông hỏi tôi:“Có tất cả bao nhiêu trẻ con và phụ nữ trên ghe?” Tôi trả lời “Tôi không biết”, nhưng có lẽ ít hơn đàn ông và thanh niên. Ông nói tiếp:“Trong điều kiện của chúng tôi hiện tại, chúng tôi chỉ cố gắng cứu trẻ em, phụ nữ. Đây là những người dễ dàng bị chết trong cơn nguy hiểm. Riêng các đàn ông, thanh niên xin tiếp tục lên đường, sẽ được tàu của Cao Ủy LHQ hay các tàu khác đi ngang qua gặp sẽ cứu.

Ôi! Thuyền Trưởng đã đổi ý! Đã bằng lòng cứu trẻ con và phụ nữ. Vậy là tôi thật sự thoát chết, và chắc chắn sẽ được đến bến bờ “Tự Do” như hằng ước nguyện. Ôi! Vô vàn cảm tạ Thuyền Trưởng! Ôi! Phải chăng Thượng Đế, Trời, Phật, những người khuất mặt đã làm Thuyền Trưởng đổi ý? Tôi quay qua nói với hai thanh niên khiêng tôi lên đây, và vẫn đang đứng đó, nóng lòng chờ kết quả:“Thuyền Trưởng chỉ có thể cứu trẻ con, phụ nữ mà thôi!"Hai anh thét to lên: “Thuyền Trưởng đã đồng ý cứu trẻ con và phụ nữ.”

Sau đó ông ra lệnh cho các Thủy Thủ xuống ghe, bồng bế các trẻ con, phụ giúp các phụ nữ bước lên thang dây của tàu Panama. Tổng cộng đếm được tất cả là 50 người. Mọi người khóc nức nở, đưa tay vẫy chào những người thân: chồng, cha, chú, bác, cậu, anh em…phải ở lại chiếc ghe không lành lặn, trải qua bao biến cố hiểm nguy, đau buồn, biết đến bao giờ có cơ hội đoàn tụ hay sẽ vĩnh viễn chia lìa? Mặc dù tôi không có bất cứ người thân nào trên chiếc ghe này, nhưng trước cảnh chia ly não nề với những người đã chịu cùng chung số phận với mình từ ngày 23 tháng 09. Nay cá nhân tôi sẽ được bình yên, đến được bến bờ Tự Do mà ai cũng mơ ước; còn họ sẽ đi về đâu, khi tiếp tục lênh đênh trên biển cả, dù được cung cấp đầy dủ phương tiện đi biển? Nhưng chiếc ghe đang bị vô nước và không ai có kinh nghiệm đi biển thì làm sao đi đúng hướng và biết đến khi nào gặp được tàu của Cao Ủy LHQ hay bất cứ tàu nào khác tiếp cứu.

Theo tôi tất cả là vô vọng. Tôi vẫn cảm thấy “Chiếc ghe ấy là cõi chết”, nên tôi rất đau lòng và suy nghĩ. Hay mình thử cố gắng năn nỉ Thuyền Trưởng cứu họ. Ông đã can đảm không xin lệnh cấp trên để tự quyết định cứu trẻ con, phụ nữ.

Bây gìờ mình yêu sách thêm. Không biết ông sẽ phản ứng ra sao? Mình có quá đáng và không biết sự quảng đại của ông không? Nhìn thấy 50 người đứng chiếm một diện tích bé nhỏ khoảng vài phần trăm trên con tàu khổng lồ, kiên cố chẳng đáng là bao. Dù lo sợ, tôi tiếp tục cố gắng nói với ông:

“Thưa Thuyền Trưởng, xin ông tha thứ cho tôi. Tôi rất đội ơn ông đã cứu mạng tôi và những người khác. Nay xin ông hãy cứu tất cả mọi người còn lại. Với chiếc ghe như vậy, tôi không tin họ sẽ có cơ hội gặp được tàu của Cao Ủy LHQ. Chúng tôi không cần thức ăn, quần áo, chúng tôi chỉ cần một nơi an toàn có hy vọng được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết. Nếu ông nhận thêm những người kia mà tôi nghĩ chỉ chiếm thêm diện tích không đáng là bao của chiếc tàu khổng lồ này, và tất cả cùng chờ đợi gặp tàu của Cao Ủy LHQ đến giúp đưa đi tới trại tị nạn.“

Có lẽ Thuyền Trưởng đã xúc động giữa tiếng khóc nghẹn ngào, những tiếng chào biệt ly, dù bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ mà ông hoàn toàn xa lạ và không hiểu:“ Ba ráng bảo trọng, tạm biệt anh; tạm biệt con, tạm biệt cậu, chú vvv…” nên ông lặng yên, trầm ngâm suy nghĩ với ánh mắt đầy xúc động. Sau một, hai phút, ông nhìn tôi nhè nhẹ gật đầu và ra dấu bằng lòng cứu tất cả mọi người còn lại trên ghe. Nhiều tiếng hét to:“ Thuyền Trưởng bằng lòng cứu tất cả mọi người.“ Ôi! Không còn gì may mắn và hạnh phúc hơn! Cảnh tượng đau lòng như một đám tang tập thể trước đó, lập tức trở thành hân hoan, vui sướng với mọi người. Thế là, từng người vội vã cuống quýt leo lên thang dây với sự giúp đỡ của các Thủy Thủ để bước lên sàn tàu. Những khuôn mặt rạng rỡ lẫn ngỡ ngàng, dù nét lo âu, khủng hoảng vẫn còn in trên nét mặt.

Khi không còn ai lên nữa, vài thủy thủ hỏi to bằng tiếng Anh:“Còn ai ở dưới ghe không?” Không có tiếng trả lời. Họ hỏi thêm vài lần nữa! và nói chúng tôi xem lại có người nào bị kiệt sức, ngất xỉu chưa lên được chăng? Tất cả gia đình cùng xem lại thân nhân của mình. Thật là một cử chỉ nhân từ và chu đáo! Sau đó các thủy thủ dùng búa chặt đứt sợi dây thừng to dùng để cột chiếc ghe vào tàu Panama trước đó, chiếc ghe tròng trành, lơ lửng trôi bềnh bồng, trên đó có chiếc túi xách mà lúc hai người khiêng tôi lên tàu Panama tôi làm rớt lại. Biểu tượng thần thoại, cánh chim Đại Bàng mà tôi thường mang theo trong những lần vượt biên từ nay sẽ trôi theo giòng nước, không bao giờ cùng tôi đi tiếp bất cứ nơi đâu!

Tất cả mọi người được yêu cầu đứng xếp hàng để đếm số người. Tất cả 137 người gồm: trẻ em, phụ nữ, thanh niên và đàn ông. Vừa mới đếm xong thì vài phút sau bỗng nhiên giông tố ầm ầm từ đâu kéo tới, kèm theo những đợt sóng khổng lồ đánh tràn vào cả sàn tàu. Các thủy thủ vội vã dùng những sợi dây thừng thật to, cột mọi người lại với nhau, và sau đó buộc chặt vào các cột tàu để không bị sóng đánh cuốn trôi đi. Một sự kinh hoàng diễn ra trước mắt mọi người đang bị ướt đẫm:
Chiếc ghe mà truớc đó chứa cả trăm người chỉ trong nháy mắt đã bị nhận chìm theo những đợt sóng khổng lồ, rồi mất hút ngay dưới cơn mưa tầm tã đổ xuống như thác, sấm chớp nổ vang khắp trời.

137 người trong đó có tôi đã chết đi và sống lại trong sự nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật??? Nếu không may mắn gặp vị Thuyền Trưởng đầy lòng bác ái và nhân từ này thì chúng tôi đã cùng theo chiếc ghe chìm sâu vào lòng đại dương lúc đó. Tôi đi từ bàng hoàng này sang đến bàng hoàng khác. Chỉ trong năm ngày lênh đênh trên biển, tôi đã chứng nghiệm được quá nhiều phép nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật đã cứu vớt tôi thoát khỏi Tử Thần, và kể từ giờ phút này đã cùng 136 người được trở về từ cõi chết.

Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ cảm thấy vui mừng đã cứu đuợc 137 người một cách bất ngờ. Chỉ trong vòng vài phút đã có những tấm bạt khổng lồ được căng lên che chở cho đoàn người chúng tôi đang bị ướt sũng, và lạnh run cầm cập bởi những luồng gió mạnh như vũ bão quất thẳng vào người.

Sau đó mọi người được các Thủy Thủ đưa vào các phòng cho ấm. Rồi họ phân phát những cục xà bông thơm phức và một số quần áo, yêu cầu mọi người lần lượt, từng nhóm bốn, năm người, chia ra nam theo nam, nữ theo nữ đi tắm, vì không có đủ phòng tắm cho từng người tắm riêng. Lúc bấy giờ, tôi đã hoàn hồn, và không còn lạnh run nữa, không khỏi bật cười khi nhìn thấy vài cô mặt mũi, mình mẫy vẫn còn dính đầy nhớt, lem luốc trông thật gớm ghiếc (giống như tôi).

Sau khi được tắm rửa sạch sẽ, ấm áp, mọi người được mời vào phòng ăn. Bao nhiêu thức ăn được khui ra từ các hộp thịt, hộp súp đã được bày sẵn trên các bàn trong căn phòng sáng rực những ánh đèn Néon. Chỉ mới sau mấy ngày đói khát, luôn luôn bị khủng hoảng, lo sợ, và lúc nào cũng kề cận với Tử Thần, chúng tôi cảm thấy như được thưởng thức một bửa yến tiệc linh đình, thịnh soạn do chiếc Đèn Thần của Aladin biến hoá.

Tôi nhờ vài thanh niên đi vòng quanh càc bàn nhắc nhở mọi người dùng súp truớc, cố gắng ăn từ từ và ít thôi để bao tử không bị ảnh hưởng, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng khi chuyển từ tình trạng quá đói sang quá no.

Mọi người lại được phân phát mền, dù không đủ cho mọi người, nhưng chúng tôi vui vẻ, chia theo nhóm đắp chung cho càng ấm, và nằm tạm trên sàn tàu dưới những tấm bạt che mưa vẫn đang còn rỉ rả. Riêng tôi thì may mắn được ngủ trong một phòng riêng nho nhỏ, có lẽ của một Thủy Thủ nhường chỗ cho dùng tạm trong thời gian chờ đợi này?

Cơn giông bão đã ngưng gầm thét để cho mọi người được ngủ yên trong niềm vui sướng và diễm phúc lớn lao nhất: Đã sống lại từ cõi chết và sẽ đến bến bờ Tự Do như ước nguyện. Chưa bao giờ tôi có một giấc ngủ thật say trong tâm trạng bình an, và tinh thần phơi phới như đêm hôm đó!

Chúng tôi chỉ van xin Thuyền Trưởng cho chúng tôi một chỗ ngồi trên sàn tàu Panama kiên cố, để được sống sót, và chờ đợi được tàu của Cao Ủy Tị Nan Liên Hiệp Quốc đến cứu.

Chúng tôi không dám mong được ăn uống, phân phát chăn mền, quần áo như thế này. Chắc là đoàn người chúng tôi đã tiêu thụ hết thực phẩm, quần áo dự trữ của tất cả Thủy Thủ đoàn? Có thể vì thế mà Thuyền Trưởng đã cương quyết từ chối lúc ban đầu. Ơn cứu mạng này của Thuyền Trưởng chắc chắn không bao giờ có thể đền trả được.

Mọi người sung sướng, yên tâm chờ đợi trên tàu Panama thêm một ngày và một đêm. Lần thứ hai được nằm trên chiếc giường bé nhỏ có chăn nệm trắng phau giữa tiếng sóng biển rì rào và thỉnh thoảng có tiếng ầm ầm của những cơn sóng từ xa vọng lại, không khí mát dịu, trong lành mà chưa bao giờ tôi có trong đời đã đưa tôi chìm vào giấc ngủ thật dễ dàng và êm ái.

Tiếng gõ cửa của một Thủy Thủ đánh thức tôi dậy giữa lúc tôi còn đắm chìm trong giấc ngủ êm đềm. Anh ta nói khi tôi vừa mở cửa"Tôi xin lỗi đã đánh thức cô. Cô đã có một giấc ngủ ngon không? Thuyền Trưởng muốn gặp cô".

Tôi vội theo anh ta bước lên cầu thang dẫn tới boong tàu trên cao. Dưới ánh bình minh giữa đại dương, mặt trời thật rạng rỡ trên mặt nước bao la xanh biếc, cảnh sắc còn đẹp hơn cả bức tranh thủy mạc. Vị Thuyền Trưởng cứu tinh của chúng tôi đang đứng chờ và đưa tay ra bắt trong lúc tôi chào ông ta. Sau đó, với khuôn mặt thật nghiêm trang quay về phía mặt Trời đang tiếp tục lên cao trên mặt nước, vị Thuyền Trưởng quỳ xuống, lâm râm vài lời và làm dấu lạy Thượng Đế theo kiểu Thiên Chúa Giáo, tôi cũng vội vã quỳ xuống theo.

Rồi Thuyền Trưởng đứng đậy, nói:" Cảm ơn Thượng Đế đã nhờ Cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người. Đúng như lời cô, nếu tôi không thay đổi quyết định kịp thời, 137 người đã thật sự bị chôn vùi dưới lòng đại dương lúc đó. Và suốt hai ngày nay, tôi không liên lạc được với bất kỳ tàu nào của Cao Ủy, vì ảnh hưởng của cơn bão, điện thoại cũng hoàn toàn bị tê liệt. Hôm nay, không thể chờ thêm nữa, chúng tôi phải nhổ neo để đưa quý vị đến một trại tị nạn gần đây nhất."Tôi rưng rưng nước mắt, chỉ biết tận đáy lòng, vô cùng cảm ơn cứu mạng của Thuyền Trưởng. Tôi xin ông cho tôi cơ hội được liên lạc với ông trong tương lai khi được định cư. Thuyền Trưởng về phòng, vài phút sau trở ra trao cho mảnh giấy có ghi tên, địa chỉ ở đất liền bằng chữ viết tay:

Captain Brian O' Connell
17 Arundel Close
Bexley
Kent
England
U.K



Last edited by vutruong on Thu Feb 04, 2016 9:00 am; edited 1 time in total
Back to top
View user's profile Send private message
vutruong



Joined: 08 Aug 2005
Posts: 1931

PostPosted: Thu Feb 04, 2016 8:55 am    Post subject: Reply with quote

tiếp theo

Các Thủy Thủ được lệnh nhổ neo tiếp tục lên đường, tàu từ từ xa giàn khoan đứng sừng sững như toà lâu đài giữa đại dương vào buổi sáng ngày 30 tháng 09, năm 1984. Buổi chiều cùng ngày thì đến Đảo Pulau Bidong, một trại tị nạn dành cho các thuyền nhân Việt Nam trên quốc gia Mã Lai Á.

Mọi người coi như đã đạt ước nguyện nhờ ơn cứu mang của vị Thuyền Trưởng có tấm lòng bác ái bao la,"Thuyền Trưởng O'Connell”. Lần lượt từng người chào từ biệt Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ với tất cả sự biết ơn không có lời nào có thể diễn tả được. Tất cả Thủy Thủ đoàn và Thuyền Trưởng hân hoan chúc chúng tôi may mắn, sớm được định cư ở một nước thứ ba.

Vì tàu được cặp vào đất liền, chúng tôi không phài dùng thang dây để leo xuống như lúc ở giữa biển. Mọi người ung dung bước ra khỏi tàu như bước ra khỏi phi cơ, có lối đi thẳng lên chiếc cầu giữa mặt nước, rồi cao lên dần cho đến khi giáp với đất liền. Sau này tôi được biết tên cây cầu là Jetty.

Thuyền trưởng O’Connell bắt tay từ biệt tôi lần cuối, sau khi giới thiệu tôi với các Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đang đứng chờ đón đoàn người tị nạn được tàu Panama bàn giao.

Một trang sách mới đã được lật qua trong dòng đời của 137 thuyền nhân sống sót nhờ một phép mầu vào ngày 28 tháng 09, năm 1984 vì đã may mắn gặp được vị Thuyền Trưởng giàu lòng nhân ái. Và bắt đầu đoạn đời tị nạn từ đây với mã số do Văn Phòng Cao Ủy Tị Nạn đăt tên theo thứ tự khi có đoàn người tới đảo: MB 224 Pulau Bidong.

Vẫy tay chào tàu Panama đang xa dần trên mặt nước mênh mông, tôi vẫn còn ngẩn ngơ như đang mê ngủ. Đứng trên nền cát trắng, dưới những hàng dừa xanh cao vút dọc theo bãi biển, tôi hướng về phía mặt trời rực rỡ đang dần dần đi xuống gần mặt nước xanh trong vắt, thành tâm khấn nguyện lời cảm tạ Thượng Đế,Trời, Phật, những hương linh đã cứu vớt tôi thoát khỏi Tử Thần đầy nhiệm mầu qua bao biến cố kinh hoàng suốt mấy ngày qua.

Từ đây, bắt đầu một khúc rẽ cuộc đời như một hành khất đi chân đất, với hai bàn tay không; cái túi xách nhỏ có vài kỷ niệm và đôi dép đã bị rớt lại trên chiếc ghe trong lúc được khiêng lên tàu Panama. Tôi đã không dám xin đôi giầy hoặc dép trong thời gian chờ đợi, vì đã nói với Thuyền Trưởng: Chỉ xin một chỗ đứng trên “vùng đất sống”.

Hành trang tôi mang đến Pulau Bidong chỉ có một trái tim tràn ngập lòng biết ơn Thượng Đế, Trời, Phật và những ân nhân đã cứu giúp tôi trên từng bước đường đời, sự thương nhớ những người thân yêu còn lại đang vất vả nơi quê nhà, và đang ấp ủ những ước mơ cho ngày mai tươi sáng. Bên cạnh đó là một linh hồn nặng trĩu với những hình ảnh hãi hùng, tuyệt vọng trong cuộc hành trình đi tìm "Tự Do",với bao ký ức đau buồn của những năm tháng" đại bác đêm đêm vọng về thành phố" trên quê hương. Một linh hồn quằn quại vì sự tan nát của gia đình khi chiến tranh chấm dứt trong cảnh nước mất, nhà tan, đau thương, thống khổ chất chồng.

Thấm thoát đã hơn ba mươi mốt năm trôi qua. Tôi đã bước qua bao nhiêu ngã rẽ cuộc đời như chiếc thuyền trôi theo giòng nước. Có những lúc rẽ qua giòng suối nên thơ, có đôi khi rẽ vào giòng sông êm ả và cũng có lúc di vào lòng biển khơi đang trong cơn giông tố. Ở bất kỳ ngã rẽ nào, không có một khoảnh khắc nào trong đời, tôi có thể quên được những phép lạ đã cứu vớt tôi trong chuyến đi nhiệm màu ấy.

Những lời cuối cho dòng hồi ức về những phép lạ tôi đang kể lại, xin thay mặt 137 người cùng thoát chết dưới lòng đại dương trong cơn giông bão vào buổi chiều ngày 28 tháng 09, năm 1984, và bây giờ không biết đang tản mạn ở các phương trời nào, ai còn, ai mất, thành tâm gửi đến Thuyền Trưởng Brian O' Connell (cũng không biết ông đang phiêu du ở chân trời, góc bể nào), lòng biết ơn vô bờ bến và không bao giờ đền trả được ơn cứu mạng ngày ấy.

Ước nguyện tha thiết nhất của tôi trong những năm tháng cuối cuộc đời là được Ơn Trên ban phép lạ cho tôi tìm được tin tức vị Thuyền Trưởng có tấm lòng bác ái bao la đã cứu 137 người tưởng chừng như chắc chắn là chết được trở về đất sống

Sự liên lạc của tôi với Thuyền Trưởng đã bị cắt đứt, sau bức thư gửi đến ông năm 1988 đã bị trả về với hàng chữ: "Moved to unknown address". Nhiều năm nay, các con tôi đã cố truy tìm trên nhiều trang mạng từ Internet, nhưng tảt cả đều vô vọng.

Cũng xin thay mặt 137 thuyền nhân, gửi đến tảt cả Thủy Thủ đoàn của tàu Panama ngày ấy sự biết ơn sâu xa trước sự giúp đỡ nhiệt tình đầy lòng bác ái của quý vị.

Từ đáy lòng , xin gửi đến cô Minh, mẹ của Tuyết Nhiên, và anh tài công sự biết ơn vô bờ đã giúp tôi thoát khỏi bọn hải tặc một cách nhiệm mầu, khi giao cháu bé và liệng cục nhớt cho tôi kịp thời trong tích tắc.

Và cũng tận đáy lòng, xin chân thành đặc biệt gửi đến ân nhân Nguyễn Vĩnh Tôn sự biết ơn vô bờ đã giúp tôi bước lên chiếc thuyền định mạng ngày 23 tháng 09, năm 1984. NVT mãi mãi là một Thiên Thần của sự trong sáng và cao quý trong hồn tôi.

Giờ đây, tôi xin thắp một nén hương dâng lên hương linh của anh Nguyễn Quốc Trụ với tất cả sự biết ơn chân thành nhất của một người hân hạnh và may mắn đã được anh giúp trong chuyến vượt biên này.

Và cùng hàng triệu Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, xin tưởng nhớ, ghi ơn những anh hùng đã hy sinh bảo vệ VNCH, trong đó có người anh hùng Mũ Đỏ Nguyễn Quốc Trụ, SVSQ/ Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt, Đại Úy thuộc Binh Chủng Nhảy Dù, người đã tham dự trận chiến khốc liệt nhất trong quân sử VNCH, trận Đồi 31, Lam Sơn 719, Hạ Lào 1971, nơi anh hùng Mũ Đỏ Nguyễn Văn Đương đã nằm xuống, và đi vào huyền thoại qua nhạc phẩm bất hủ "Anh không Chết Đâu Anh" của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh, còn anh Nguyễn Quốc Trụ và nhiều Sĩ Quan, binh sĩ đã bị bắt làm tù binh trong những trại tù nghiệt ngã ở Bắc Việt cho đến năm 1979.

Xin thắp một nén hương dâng lên người Cô (Dì) yêu dấu Hồng Hoàng Lan, với tất cả sự biết ơn của người cháu được Cô thay Mẹ, an ủi, đùm bọc trong giai đoạn gia đình tan nát, đau thương sau biến cố lịch sử 30 tháng 04, năm 1975. Cô là người duy nhất trong gia đình Mẹ tôi còn ở lại Hà Nội sau năm 1954 vì đã không thể bỏ lại những cây đàn yêu quý để ra đi. Là một nhạc sĩ xử dụng đàn Violoncelle trong Dàn Nhạc Giao Hưởng Hà Nội, cô đã kịp thời vào Sàigòn để đưa tiễn Mẹ tôi về cõi vĩnh hằng ngay sau 30-4-1975. Cô cũng là người đã khuyến khích, giúp tôi tìm đường vượt biên, và bắt nhịp cầu cho tôi được bước vào chuyến đi hãi hùng, nhưng mầu nhiệm này.


Và xin thắp một nén hương nguyện cầu cho hương linh em Tuyết Nhiên cùng tất cả những thuyền nhân đã nằm xuống lòng đại dương trong những cuộc hành trình đi tìm Tự Do đưọc an nghỉ nơi vùng trời miên viễn.

Nếu không có những phép lạ nhiệm mầu cứu vớt, 137 người trong đó có tôi cũng đã chung số phận âm thầm nằm trong lòng biển cả ngày 28 tháng 09, năm 1984. Và những biến cố dồn dập xảy ra trong suốt cuộc hành trình không bao giờ thân nhân được biết.

Cuối cùng, xin chân thành gửi đến anh Trần Đình Phước, cựu Trung Úy Không Quân VNCH, sự biết ơn sâu xa đã khuyến khích, nhiệt tình, bỏ ra nhiều thời gian và công sức giúp tôi hoàn tất viết lại những dòng hồi ký đúng vào ngày Giáng Sinh 2015 về chuyến đi nhiều phép lạ mầu nhiệm này.

Toronto, Giáng Sinh 2015
Phạm T Duyên

Back to top
View user's profile Send private message
bichlieu



Joined: 30 Mar 2008
Posts: 6224
Location: CANADA

PostPosted: Fri Feb 05, 2016 8:08 am    Post subject: Reply with quote


Cảm ơn bác Vũ đã đem câu chuyện vuọt biên thât cảm động và nhiều ý nghĩa của 1 giáo sư Anh Văn vào đây chia sẻ vói bạn bè.
Trong truyền thống nhớ ơn của dân tộc Việt ,chúng mình nếu không có dịp gặp lại ,bầy tỏ lòng biết ơn đến những nguòi đã cưu mang,giúp đõ mình thì hãy theo tấm gưong sáng của ân nhân mà giúp đõ lại những nguòi cần đưọc giúp đõ duói hình thức khac' nhau tuỳ hoàn cảnh cũng là một cách tri ân vậy. Phải không các bạn.
Back to top
View user's profile Send private message
phuongkhanh



Joined: 12 Sep 2006
Posts: 2314

PostPosted: Mon May 02, 2016 10:49 am    Post subject: Vượt biển. Reply with quote

bichlieu wrote:

Cảm ơn bác Vũ đã đem câu chuyện vuọt biên thât cảm động và nhiều ý nghĩa của 1 giáo sư Anh Văn vào đây chia sẻ vói bạn bè.
Trong truyền thống nhớ ơn của dân tộc Việt ,chúng mình nếu không có dịp gặp lại ,bầy tỏ lòng biết ơn đến những nguòi đã cưu mang,giúp đõ mình thì hãy theo tấm gưong sáng của ân nhân mà giúp đõ lại những nguòi cần đưọc giúp đõ duói hình thức khac' nhau tuỳ hoàn cảnh cũng là một cách tri ân vậy. Phải không các bạn.


BL nói chí lý lắm.
Hôm nay mình mới được đọc bài này, cám ơn VD và người viết, bài viết rất lôi cuốn mình nhập vai vào một trong những người vượt biển lúc ấy, làm xúc động đến rơi nước mắt.
Mình cũng có chị bạn đi vượt biển với mẹ, gia đình em gái, và hai con, sau này nghe mẹ chị vì yếu sức bị mất trên tầu và phải thủy táng, và tầu của chị cũng được giàn khoan dầu cứu vớt...
PK
Back to top
View user's profile Send private message
Display posts from previous:   
Post new topic   Reply to topic    Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn Forum Index -> Bài Viết All times are GMT - 7 Hours
Goto page Previous  1, 2, 3, 4
Page 4 of 4

 
Jump to:  
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum


Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group