Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn Forum Index Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn

 
 FAQFAQ   SearchSearch   MemberlistMemberlist   UsergroupsUsergroups   RegisterRegister 
 ProfileProfile   Log in to check your private messagesLog in to check your private messages   Log inLog in 

DÒNG ĐỜI - Phần 2
Goto page Previous  1, 2, 3, 4  Next
 
Post new topic   Reply to topic    Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn Forum Index -> Bài Viết
View previous topic :: View next topic  
Author Message
Do Dung



Joined: 03 Aug 2005
Posts: 3170

PostPosted: Tue Sep 03, 2013 2:42 pm    Post subject: Reply with quote

Mưa xối xả như giận dữ trút nước xuống thành phố, thỉnh thoảng sấm sét đì đùng và những lằn chớp ngoằn ngoèo trên không. Cu Chou nép mình trong lòng mẹ ngủ ngon lành. Ngọc ôm chặt thằng bé như cố gắng che chở con, mắt mông lung nhìn qua cửa sổ. Những chùm bông giấy tím trên bờ tường rào run rẩy và cây bông sứ như đứng oằn mình chịu đựng cơn dông. Nhìn khuôn mặt ngây thơ của con, hai dòng lệ ứa ra rồi nàng dụi mặt vào người con, thút thít khóc.

Chiều hôm ấy, khi đi làm về Khương buồn bã, chẳng nói năng gì, cất cặp sách, thay quần áo rồi ngồi thừ ra suy nghĩ, chẳng thiết đến bữa ăn. Thấy không khí nghiêm trọng Ngọc không dám lên tiếng, đợi đến tối sẽ gạn hỏi cho ra nhẽ.

Buổi tối, sau khi cơm nước, dọn dẹp xong, hai vợ chồng đang sửa soạn cho con đi ngủ thì tiếng chuông cửa reo. Mở cửa ra, sáu người trong quân phục với súng ống lăm lăm, đứng ngay trước cổng. Ngọc hoảng hốt, sợ hãi không biết tai ương nào sắp giáng xuống gia đình nàng đây. Khương ra mở cổng, sáu người bộ đội tràn vào, dàn trận như đang hành quân bố ráp, bốn người súng AK cặp nách, hai người súng ngắn trên tay.

Mấy người mang súng AK ngừng lại ngoài sân, hai người bộ đội có vẻ như cấp chỉ huy bước vào phòng khách cùng vợ chồng Khương, hỏi tên và một số chi tiết về cá nhân chàng rồi nói như ra lệnh:

_ Mời anh theo chúng tôi về Ủy Ban quân quản làm việc.

Ngọc cuống quýt:

_Thưa các anh, các anh cho địa chỉ để sáng nhà tôi lên trình diện các anh được không?

Người ấy lạnh lùng:

_ Chúng tôi được lệnh đưa anh đi ngay. Khẩn trương lên!

Trong khi Khương vào thay quần áo, Ngọc lấy một túi vải sắp một bộ đồ mặc nhà, một áo lạnh và một số vật dụng vệ sinh như bàn chải đánh răng, khăn mặt ...cho chồng, nàng nghĩ nhỡ Khương phải ở lại qua đêm.

Nhìn chồng đi giữa những người bộ đội, bước lên chiếc xe bít bùng, dù không bị còng tay nhưng cũng bị áp giải như tội phạm, Ngọc bàng hoàng, thảng thốt. Đang đêm khuya, nhà không có phương tiện để liên lạc với bên ngoài, Ngọc điếng người vì sợ hãi, cả đêm không ngủ, nằm ôm con, miệng lâm râm niệm Phật và mong trời mau sáng để chạy về nhà mẹ hay nhà chị Lan, để rúc vào lòng mẹ hay lòng chị mà khóc, mà kể lể, mà tìm sự chở che.

Sáng sớm tinh mơ, chị Lan đang đảo đều nếp với khoai mì trong chõ, sửa soạn cho mỗi người một chén đầy xôi khoai mì trộn chút muối mè-đậu phộng cho chắc bụng trước khi người đi học, kẻ đi làm. Nhìn chõ xôi chị bất giác thở dài, trưa hôm qua sau khi được gọi ra xếp hàng ở tổ dân phố để mua thực phẩm, chị vác về một bao khoai mì, khoai lang mà ngán ngẩm. Khoai lang đã nhiều chỗ bị sùng, khoai mì sắp chạy chỉ. Chị phải bỏ nguyên buổi tối ngồi gọt vứt những chỗ hư, chừa lại một ít nấu ăn ngay ngày sau, chỗ còn lại sắp vào cái mẹt lớn, định phơi khô để sẽ độn với gạo nấu ăn dần. Anh Luận, chồng chị, sĩ quan cấp tá đã đi trình diện học tập, tưởng một tháng thì về mà đến nay đã hơn một tháng vẫn bặt vô âm tín. Nhìn đàn con dại, bốn đứa từ 10 đến 16 tuổi, đang sức lớn, cơm chẳng đủ mà ăn, tương lai mờ mịt, biết sẽ về đâu.

Bỗng tiếng đập cưả rồi tiếng Ngọc như rên rỉ:

_ Chị Lan!...Chị Lan ơi...!

Thằng Chương, con trai lớn nghe tiếng dì, chạy vội ra đỡ chiếc xe đạp mini của Ngọc, bế cu Chou đang phụng phịu vì còn ngái ngủ vào nhà. Ngọc như đổ ập vào người chị, tiếng nói đứt quãng qua tiếng nấc uất hận, nghẹn ngào:

_Đêm hôm qua...người ta...đến nhà em...bắt anh Khương đi ...chị ơi...

Nói xong nước mắt Ngọc tuôn ra như suối, ướt đẫm vai áo chị Lan.

_ Cả đêm qua em không ngủ được phải không? Thôi vào đây nằm nghỉ, chị pha cho em ly sữa nóng, uống cho khỏe, em hãy ngủ một giấc cho lại sức. Ốm đau lại khổ! Từ từ... ta tính!

Nói để vỗ về, an ủi em nhưng hai dòng lệ cũng chảy dài qua khoé mắt chị Lan.

Một đêm thức trắng vì sợ hãi, qúa mệt mỏi nên sau khi uống ly sữa nóng, Ngọc nằm ngay xuống chiếc đi văng trong phòng khách nhà chị ngủ thiếp đi. Nhìn nét mặt mệt mỏi của cô em út, chị Lan thở dài, con bé được cưng chiều từ nhỏ, cả nhà yêu thương vì Ngọc xinh xắn, học giỏi và ngoan ngoãn. Khi lập gia đình lại gặp nơi tử tế, chồng quý, chồng cưng...Thế mà giờ đây gặp cơn bão tố thế này. Thật tội cho em.

Hôm nay không có giờ dạy, Lan rút một tờ giấy trắng viết đơn cáo bịnh xin nghỉ hai ngày để ở nhà giúp Ngọc. Chị đưa lá đơn cho Chương, dặn con khi đi học nhớ ghé qua trường của mẹ nộp cho mẹ. Đợi Ngọc thức dậy Lan sẽ cùng em sang báo tin cho bố mẹ nàng, báo cho bên nội thằng cu Chou.

Cụ Tham Minh đang cầm cây chổi lông gà phủi bụi trên những khung ảnh Ông Bà bầy trên bàn thờ bằng gỗ cẩm lai vẫn còn được đặt trang trọng trong phòng khách, nghe tiếng bi bô của thằng bé con cụ quay lại, hai cô con gái đang dắt tay thằng bé bước lên thềm.

_ Bố ạ!

_Hai chị em có việc gì mà rủ nhau sang đây sớm thế?

Lan ngập ngừng:

_Thưa bố...Chú Khương bị bắt đêm hôm qua.

Cây chổi lông gà rơi tuột khỏi tay, cụ bước vội đến chiếc tràng kỷ ngồi phịch xuống:

_ Kể cho bố nghe, sự việc thế nào?

Lan thay Ngọc kể lại những diễn biến xảy ra tại nhà Ngọc hôm qua trong khi Ngọc ngồi bên tủi thân ôm con rấm rứt khóc.

Mặt cụ ông như sạm lại, cụ không biết nói sao. Năm nay cụ đã hơn bảy chục tuổi, suốt đời hai cụ đã lo nuôi dạy bầy con sáu đứa đến lớn khôn, học hành thành đạt. Tưởng rằng hai cụ sẽ được hưởng những ngày tháng bình yên tuổi già, vui với mấy chậu kiểng ngoài sân, thỉnh thoảng con cháu về thăm hay có nhớ con nhớ cháu thì cụ chỉ cần ra đường vẫy chiếc xích lô là có thể đến với chúng nó.

Bây giờ hai người con trai của cụ nhà bị niêm phong từ 30/4 đến nay, chưa biết hai gia đình đó sống chết thế nào, có đi được đến nơi, đến chốn hay không. Hai cô con gái kẹt lại, cô lớn chồng đi cải tạo không biết ngày về, cô út chồng bị áp giải đi thế này. Đúng là tai trời ách nước. Vận mệnh con người phải nổi trôi theo vận mệnh chung.

Cụ nghĩ đến Khương, anh con rể út hợp tính, hợp nết với cụ, một thanh niên cương trực, thẳng thắn, trong sạch, nặng lòng với quê hương. Những lúc giỗ tết, trong khi đàn bà con gái lo việc cỗ bàn dưới bếp Khương hay ngồi tiếp chuyện cụ, thân tình như con trai. Anh kể cho cụ về những ngày anh mới chân ướt chân ráo đến Paris, kinh thành ánh sáng, còn ngơ ngác hoang mang đã bị những cán bộ CSBV níu kéo mua chuộc bằng những phương pháp rất tinh vi. Những thành phần quốc gia nhưng thiên tả cũng có rất nhiều, họ thu phục đám thanh niên nhẹ dạ, dời quê hương khá lâu và không am tường về hiện tình đất nước, trong khi nhân viên của toà Đại Sứ VNCH lại quá lơ là, không để ý đến cuộc sống, đến sinh hoạt của sinh viên du học. Khương còn kể với cụ rằng có lần anh đã cùng nhóm sinh viên thuộc phe VNCH chính thức đối đầu với nhóm cán bộ Cộng Sản. Sau đó phe Quốc Gia cũng mời anh vào hoạt động chính trị với họ nhưng anh đã từ chối.

Mới đây, một anh bạn học cùng thời với Khương, về giảng dạy tại Trường Y khoa, đang âm thầm thành lập Mặt Trận Phục Quốc có liên lạc và thuyết phục anh hợp tác. Anh đang phân vân giữa trách nhiệm với đất nước và trách nhiệm với gia đình. Bây giờ nghe tin này, cụ chưa biết mức độ nghiêm trọng cỡ nào. Khương bị bắt oan hay anh đã nhúng tay, hợp tác với tổ chức mà anh đã có lần kể với cụ. Nghĩ thương chàng rể lại xót xa cho con gái mình. Cụ chẳng biết nói sao, nhìn lên trần nhà, một con thạch sùng giương đôi mắt nhỏ, đen láy nhìn cụ như chia sẻ rồi tặc lưỡi, quẫy đuôi bò đi.

Lan và Ngọc sửa soạn ra về thì cụ bà tay xách giỏ chợ bằng nilon có bó rau muống thò ra khỏi miệng giỏ, đẩy cửa bước vào đon đả:

_ Hai chị em sang chơi hả? Các con đến lâu chưa?

Cụ như khựng lại:

_Sao hai đứa mắt đỏ hoe thế này? Có chuyện gì vậy con?

Như được khơi nguồn, Ngọc khóc nức nở, cụ bà chạy vội đến ôm cô con út. Ngọc được thể gục vào lòng mẹ tức tưởi. Cu Chou giương đôi mắt tròn xoe nhìn mọi người rồi cũng bật lên khóc oà. Sau khi nghe con kể rõ nguồn cơn cụ bà thở dài:

_ Hai chị em ở lại ăn cơm với bố mẹ, mẹ mới mua được miếng thịt thăn ngon tính làm ruốc, thôi để mẹ rim lên cả nhà ăn với rau muống luộc, nhà cũng còn lọ dưa muối. Từ từ ta tính.

Cụ lập lại y như những lời Lan đã an ủi em, từ từ ta tính.

Cơm nước dọn dẹp xong xuôi, con cháu ra về hết, hai cụ ngồi nhìn nhau buồn bã. Buổi sáng sau khi ghé khu chợ trời bán bớt một mớ quần áo cũ của Quân và Nga, hai người con bên Pháp, cụ bà đi ngang qua nhà Vinh, anh con trưởng. Căn nhà đã được trưng dụng, mặt tiền nhà đã là cửa hàng Hợp tác xã của phường chứa đầy cá khô. Đã gần ba tháng mà chưa có tin tức chính thức nào của con, hai cụ cũng rất nóng ruột. Cụ thương anh con trưởng hiền lành như đất, chọn nghề giáo, làm tròn bổn phận giảng dậy, uốn nắn thế hệ tương lai. Chị Vinh con nhà tử tế, bạn học với Lan, cũng nhà giáo nhưng lanh lợi hơn chồng, sanh được hai thằng con khỏe mạnh, đẹp trai, thằng lớn đã vào đại học, thằng em cũng sắp xong trung học. Cụ mừng lắm, sau khi gả chồng cho Ngọc, cô gái út cụ đã định bụng khi già yếu sẽ thu xếp về với nhà anh cả nhưng nay cớ sự thế này! Nghĩ đến Khanh, con trai Út, cụ lại thương, lấy vợ mấy năm trời, vợ còn đi học nên chả dám sanh đẻ, cô vợ vừa ra trường, mới mừng rỡ báo tin với cha mẹ là sắp được làm cha thì lại trời đất tai ương thế này, cho đến nay vẫn chưa tin tức. Cuộc sống của cụ từ ngày về nhà chồng êm ả, sanh sáu người con cứ đổi đầu, một trai rồi một gái, Vinh-Lan-Quân-Nga-Khanh-Ngọc. Nghĩ đến Ngọc cụ không ngăn được dòng nước mắt xót xa, một thân một mình với đứa con nhỏ chưa đầy hai tuổi, Ngọc làm sao chống chọi với đời. Cụ bàn với cụ ông sang bảo mẹ con Ngọc thu xếp về nhà bố mẹ mà ở, mà nương tựa với nhau.





Last edited by Do Dung on Thu Sep 26, 2013 1:46 pm; edited 2 times in total
Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Fri Sep 06, 2013 8:32 am    Post subject: Reply with quote


Lững thững đi bộ từ trạm xe Bus ở cổng đại học về cư xá, con đường khá dài gần 2 km nối hai đầu của Campus, trạm xe Bus của thành phố nằm ở ngay cổng chính của đại học, cư xá sinh viên của Thư nằm ở mãi tít cuối đại học, con đường quen thuộc và nhàm chán đến độ Thư không còn để ý gì đến cảnh vật xung quanh. Đại học chiều thứ sáu cuối tuần vắng như chùa bà đanh, chân bước đều mà lòng dạ Thư để mãi tận đâu đâu.

Trong một thời gian quá ngắn mà bao nhiêu chuyện kinh khủng đổ ập lên đầu Thư. SG đã mất trọn về tay CS, Thư mất liên lạc với gia đình từ hơn hai tháng nay và Định, người yêu của Thư, báo tin sẽ đổi lên học Berlin, một thành phố của Tây Đức nằm gọn lỏn giữa lòng CS Đông Đức.

Về đến cư xá, mở cửa căn phòng đơn trên lầu 13 của mình, gió mạnh lùa từ cánh đồng trồng táo phía sau lưng cư xá làm cánh cửa sổ đang được mở hé đóng sầm lại khiến Thư giật cả mình. Vất vội cái túi xách con trên vai xuống bàn học, Thư lật đật mở phong bì dầy cộp màu vàng mới lấy từ thùng thơ dưới Foyer ra. Ngoài phong bì không đề tên người gởi, lại đóng con dấu bưu điện thật lạ, chữ thoạt nhìn ngoằn nghoèo không đọc ra…. Ai gởi cho mình thế này ? Mình có quen ai ở Bangkok – Thái Lan ? Tay run run, không kịp lấy kéo cắt, Thư xổ cái phong bì dầy cộp ra: ba bốn cái thư dán chằng chịt những tem của Thư gởi cho cha mẹ hai tháng trước đây, nay đã bị bưu điện gởi trả về, ngoài mỗi bì thư lại bị đóng thêm cái mộc “Return” !!! Thôi rồi, bao nhiêu tin tức dặn dò nhắn nhủ của Thư gởi cho gia đình dạo tháng 3, tháng 4/75 đã bị chận lại tất cả ở Thái, không về được tới VN. Nước mắt Thư lặng lẽ chảy dài ướt đẫm hai gò má, gia đình Thư tới hôm nay vẫn biệt vô âm tín, cha mẹ và các em của Thư bây giờ đang ở đâu, sao không ai viết thư hay đánh điện tín gì cho Thư cả, khổ sở chờ đợi trong vô vọng như thế này thì làm sao Thư sống nỗi.

…..Mấy tháng trước, tối nào Thư cũng vặn TV xem tin tức về Việt Nam. Cả thế giới bình luận về Việt Nam, cả nước Đức nói về Việt Nam, bên ủng hộ miền Bắc, bên ủng hộ miền Nam. Đài TV nào, phóng viên nào „chống“ miền Nam thì Thư tắt, đổi đài khác. Nhưng chính những đài „chống“ miền Nam lại cho những tin tức „sát thực“ nhất, lúc đó Thư chỉ còn muốn nghe những tin tức „ru ngủ“ cho lòng dạ bớt hoang mang, bớt khủng khoảng, nói đúng ra Thư chỉ muốn trốn tránh sự thực, cái sự thực đau lòng càng ngày càng rõ mồn một.

Thời gian này, Thư và Định viết thư cho nhau rất nhiều, những hoang mang, hốt hoảng, lo âu cho số phận đất nước cũng như của gia đình, Thư viết hết cho Định. Ngược lại, Định vẫn lạc quan, tìm cách trấn an Thư.

Định học ở Stuttgart, đông sinh viên VN trên dưới gần 200 người, có khá nhiều thành phần, nhiều phe phái. Phe quốc gia, phe có cảm tình với bên kia, phe chống CS, phe chống Mỹ và dĩ nhiên không thiếu những nồng cốt được huấn luyện, được học tập chính trị của miền Bắc gài vào.

Trong giai đoạn một mất một còn, tương lai miền Nam như chỉ mành treo chuông, hội sinh viên Việt Nam của đại học Stuttgart đã tổ chức một buổi họp có tính cách đại hội đồng, thứ nhất để bầu lại hội trưởng của hội, thứ hai là để minh định lập trường trước những biến chuyển quá bất lợi cho miền Nam. Từ trước đến nay hội vẫn có tên là „hội sinh viên Việt Nam“ nhưng số sinh viên thiên tả - phe bên kia - đang hăm he muốn hất chân anh hội trưởng hiền lành, chiếm hội làm cơ sở, làm bàn đạp cho những dự định mà sinh viên quốc gia, vốn lè phè, không đề phòng.

Phiên họp có vẻ mang nhiều tính cách quyết định tương lai của hội nên Định rủ Thư về tham dự. Đi một mình cũng buồn nên Thư rủ Phiên cùng đi theo, bạn Phiên ở Stuttgart, ngoài Định ra cũng đông nên Phiên nhận lời đi cùng. Thư vẫn biết là các sinh viên quốc gia phần lớn lè phè, lo học hành, ít thích tham dự chuyện hội hè, về Stuttgart lần này tuy không phải là hội viên nên Thư sẽ không được bầu bán với mọi người nhưng ít ra Thư cũng có cơ hội lên tiếng, ủng hộ tinh thần sinh viên phe quốc gia.

Một anh sinh viên quốc gia, từ trước đến nay vẫn nổi tiếng là ăn nói thẳng thừng, không kiêng nể, được bầu làm „Moderator“ cho buổi họp. Phòng họp chưa bao giờ đông như thế. Nếu không có anh Moderator cứng rắn, có lẽ phòng họp với hơn 200 sinh viên đã biến thành bãi chiến trường giữa hai phe.

Khi đặt vấn đề đổi tên hội từ „hội sinh viên Việt Nam tại Stuttgart“ sang thành „hội sinh viên Việt Nam quốc gia tại Stuttgart“, có nhiều tiếng la ó phản đối phía cánh bên phải của phòng họp với lý luận sinh viên Việt Nam là sinh viên Việt Nam, hội không làm chính trị ! Anh Moderator trả lời ráo hoảnh:

- tôi là sinh viên của Việt Nam Cộng Hòa, chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như thế tôi đã có một hành động chính trị. Hội sinh viên Việt Nam ở Stuttgart không làm chính trị nhưng có lập trường chính trị hẳn hoi.

Tiếng vổ tay rầm rầm vang dội cả hội trường. Anh Moderator tiếp luôn:

- Ai không chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, xin yêu cầu đứng lên.

Một phút im lặng trôi qua, lục tục có cả hơn mười người đứng dậy bỏ ra khỏi phòng.

Định ngồi cạnh Thư, mắt Định cau lại, anh nắm chặt tay Thư, thì thầm „anh không thích thái độ quá khích như thế“. Thư không cho như thế là quá khích, nhưng giữ im lặng, không muốn tranh luận lúc này với Định, nhưng Thư biết, khi về đến nhà, hai đứa sẽ lại tranh cãi như những lần trước.

Buổi họp đại học đồng của sinh viên Việt Nam Stuttgart hôm đó đã an ủi Thư được rất nhiều, ít ra là trong lúc này, Thư không cảm thấy quá cô đơn nhưng thái độ khó hiểu của Định vẫn làm Thư không khỏi nghĩ ngợi suốt trên đoạn đường từ Stuttgart trở về nhà.

Những cuộc biểu tình phản chiến của sinh viên Đức vẫn diễn ra hằng ngày tại các đại học, nhất là các đại học bị nhóm „marxistische Studentenverbund Spartakus“, nhóm sinh viên thiên tả công khai của Đức, thao túng. Chứng kiến những cuộc biểu tình chống chiến tranh, ủng hộ Bắc Việt, chống Mỹ…..ở đại học Frankfurt của Thư, rồi đọc những bức thư tìm cách an ủi Thư của Định càng làm Thư cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng hơn. Sống trong một nước cũng đang bị chia cắt, đang có hai ý thức hệ tương phản, sao Định không chịu hiểu mà vẫn cho là miền Nam không có chính nghĩa khi có người Mỹ đứng sau lưng, vậy Bắc Việt với Nga Sô, với Trung Cộng có chính nghĩa hơn hay sao ???

Cho đến nay, đã sang tháng 6/75, ngoài lá thư của cha mẹ mà Thư nhận được từ đầu tháng 4/75, báo tin gia đình đang ở Rạch Giá, đang lo mua tàu tìm cách vượt thoát VN bằng đường biển, Thư không biết thêm một tin tức nào của gia đình. Bức thư của cha mẹ Thư vào khoảng đầu tháng Tư đã làm Thư khấp khởi mừng thầm, lên tinh thần. Cho đến ngày cuối cùng, khi người phóng viên có mái tóc bềnh bồng lãng tử, có giọng nói trầm ấm, vẫn thường có những lời bàn dành nhiều cảm tình cho miền Nam Việt Nam của Thư, đứng trên boong tàu của hải quân Mỹ, nói lên những lời bình luận, đọc bản tin cuối cùng về Sài Gòn, kết luận một khúc phim lịch sử của VNCH chấm dứt từ đây và ông gửi lời chào tạm biệt khán giả của đài truyền hình Đức, Thư đã bật khóc. Hình ảnh của gió biển phần phật, có ánh nắng chiều dần dần tắt hẳn sau lưng phóng viên truyền hình, những hình ảnh cuối cùng của hòn ngọc viễn đông vẫn còn như nhảy múa trước mắt Thư..Thôi thế là hết ….

Back to top
View user's profile Send private message
bichlieu



Joined: 30 Mar 2008
Posts: 6224
Location: CANADA

PostPosted: Sat Sep 07, 2013 3:15 am    Post subject: Reply with quote


….Lưng tựa vào thành tầu, hai chân trong thế một chân co một chân duổi, Thảo ôm trong lòng cái túi vải kaki, vỏn vẹn một áo dài, một bộ đồ bộ mặc trong nhà, vài cái quần cái áo đơn sơ mà Thảo đã xếp sẵn từ cả mấy ngày nay, từ khi được Bình cho biết phải thu xếp chuẩn bị để ra đi bất cứ lúc nào. Sáng nay không biết có phải do linh tính hay định mệnh đã an bài hay ý trời muốn như thế, Thảo còn vớ theo vài cuốn Album nhỏ bằng bàn tay chứa đầy hình ảnh kỷ niệm với gia đình, nhét vội vào túi xách đem theo vào sở làm.

Màn đêm đang buông dần, mọi tiếng động xô bồ hỗn loạn của lúc mới xuống tầu lúc này đã dịu hẳn lại. Nhìn làn nước đen thui bên dưới, chung quanh hai bên bờ chỉ còn lập lòe vài ánh đuốc xa xa, Thảo khẻ thở dài rùng mình nhớ lại….

Trưa nay -29/04- khi Bình, hôn phu của Thảo, đến nha Nông Nghiệp trên đường Hàm Nghi nơi Thảo làm việc, báo tin phải đi gấp theo anh, vì chuyến tầu của anh sắp khởi hành trong chốc lát, Thảo đã xách theo túi vải kaki, không kịp chào đồng nghiệp, vội vã đi theo Bình như cái máy. Lên đến tầu rồi mà Thảo vẫn còn bàng hoàng, không ngờ mình đang đứng ở đây, chung quanh không một người quen biết ngoài Bình, hôn phu của nàng.

Trong một đám cưới của ông anh họ con ông cậu ruột, Thảo được bố mẹ cho đi cùng với anh Quân ra Qui Nhơn, hai anh em được đại diện bố mẹ ra dự lễ cưới. Ngay từ phút đầu gặp gỡ, Thu Thảo đã để ý ngay đến Bình, chàng phù rể trong bộ quần áo đại lễ màu đen thẩm của Hải Quân, trông chàng thật oai phong nhưng vẫn không dấu được nét mặt lém lĩnh với mái tóc húi cua thật ngắn của chàng….Về phía Bình, chàng gặp ngay coup de foudre khi đưọc chú rể giói thiệu cho cô em gái của bạn. Cái dáng e ấp, dịu dàng của cô sinh viên mới ra trưòng, ít tiếp xúc với nguòi lạ, nhất là nam giói của Thảo đã thật sự thu hút chàng.

Chọn ngành hàng hải, luôn sống xa gia đình, trong những lần về phép hoặc khi tàu ghé vào nhửng bến bờ xa lạ, đôi khi chàng cũng được bạn bè giới thiệu cho làm quen với những cô em gái hậu phưong, đa số các cô nhận lời làm quen với các anh. Thuỷ thủ thì thuờng xông xáo, bạo dạn, các cô thường thì thích đi chơi, đi ăn hoặc theo các anh đi nhảy ở các vũ trưòng, cũng có khi xuống chơi thăm tầu, hồn nhiên, vui vẻ, đem đến cho chàng những giây phút thoải mái… Nhưng Bình không dám tiến xa hơn nữa trong quan hệ trai gái, chàng chỉ sợ cuộc sống nay đây mai đó của mình không thể đem lại hạnh phúc cho nguòi vợ tương lai.

Bình đã ngoài 30, cha mẹ chàng đều muốn chàng lập gia đình, nhất là mẹ chàng, bà đã nhiều lần gạn hỏi xem Bình đã có nguòi yêu chưa, nếu có thì nên tính tới chuyện vợ con. Bà hết nói xa, nói gần đến đề nghị thẳng thắn nhờ người mai mối, đánh tiếng hoặc ép chàng đi xem mặt các cô, con gái của các bà bạn của bà hay bạn của các cô em họ trong đại gia đình.

Chiều lòng mẹ, Bình cũng đi xem mặt một vài nơi nhưng rồi chàng đều nói vói mẹ là xem ý các cô chỉ muốn làm nguòi yêu của lính, chứ ít ai muốn làm vợ lính, nhất là lính hải quân, vốn bị mang tiếng là đa tình, mỗi bến bờ chỉ là một chỗ dừng chân tạm.

Thu Thảo cho chàng cái cảm giác thật an bình, một chốn để tìm về sau những chuyến hải hành dài, lênh bênh trên biển. Khi tầu đi ngang qua thành phố, nhìn thấy ánh đèn từ các ngôi nhà, chàng thường thấy cô đơn, nhớ nhà, nhớ đất liền và thèm một mái ấm gia đình bình an. Ở Thảo là tất cả sự dịu dàng, chịu đựng, từ dáng đi đến tiếng nói nhỏ nhẹ, cử chỉ ân cần. Cái dáng vẻ nguợng ngập, lúng túng, cúi gầm mặt trước cái nhìn soi mói như muốn tìm hiểu, muốn đọc được những ý nghỉ trong đầu của cô, hai má ửng hồng, đôi tay xoắn vào nhau như không biết để vào đâu, đã khiến cho Bình cái cảm giác muốn được che chở, bảo vệ cho cô.

Sau khi xin phép cậu mợ Thảo để được đưa Thảo xuống chiếc giang thuyền của một ngưòi bạn, chàng và Thảo cùng hai vợ chồng anh bạn đi chơi ở một bãi biển nhỏ rất vắng người ngay tại bờ biển Quy Nhơn. Nước biển trong vắt, nhìn thấy tận đáy và đầy rong biển. Thảo thích đi bộ dọc theo bờ biển, chân trần, sâm sấp nước, đi bên cạnh Bình lúc mặt trời lặn dần, gió biển thổi tóc nàng bay bay, Thảo dạn dỉ, cởi mở hơn và bắt đầu nói chuyện chứ không chỉ im lặng nghe Bình kể lể về cuộc sống của chàng.

Sau đám cưới, anh Quân vì quân vụ phải về thẳng Kontum, để cô em gái ở lại với cậu mợ thêm 10 ngày trước khi về lại Sài Gòn. Tình yêu đầu đời đã đến với Thảo như làn gió nhẹ của miền biển mùa hè, phảng phất mơn man nhẹ nhàng, làm chạnh lòng kẻ viễn xứ trong những chuyến hải hành dài hạn. Sau gần hai năm quen nhau, Bình đã đến nhà xin hỏi cưới Thảo và được cha mẹ hai bên đồng ý. Sau lễ dạm ngõ, Bình theo tầu xa Sài Gòn liên miên, anh chỉ còn ghé thăm Thảo trong những ngày phép ngắn hạn quý báu.

Lúc anh Quân còn ở Saigon, chưa lên cao nguyên Kontum nhận nhiệm sở, thỉnh thoảng Quân vẫn chở Thảo đến nhà Tường Vi chơi. Trong những dịp này, Thảo đã làm quen được với Mai, em gái kế út của Vi, vì hai người cùng học đại học năm đầu tiên. Lúc biết tin anh mình không được chị Vi chấp nhận, Thảo biết anh Quân đau khổ lắm nhưng vốn ít nói lại hay e dè nênThảo không dám kể cho Mai nghe vì sợ Mai cho rằng Thảo muốn tìm cách cứu vãn tình thế cho ông anh của mình, nhờ vậy mà tình thân của đôi bạn không bị sứt mẻ. Tình thân lại càng gắn bó hơn khi anh Quân đổi lên cao nguyên, Thảo cô đơn nên tâm sự rất nhiều với Mai về Bình, về những lo âu bâng quơ của người con gái khi xa người yêu.

Tuần lễ cuối của tháng 4, Bình nhờ bạn đến nhà nhắn Thảo phải chuẩn bị sẵn, không biết anh sẽ về lúc nào nhưng tình thế khẩn trương, anh chưa về ngay được. Bố mẹ Thảo chỉ có 2 người con, anh Quân và Thảo. Anh Quân đã xa nhà từ lâu, trong nhà chỉ còn Thảo lui tới với cha mẹ già, thật là khó nghĩ cho Thảo quá. Ra đi thì bỏ lại cha mẹ già, mà Bình thì nhất định không ở lại. Mẹ Thảo biết ý con, bà nhất định khuyên Thảo nên theo Bình, viện lẽ con gái thì phải theo chồng, tuy chưa cưới nhưng hai bên đã xem nhau như xui gia, đừng quá lo lắng cho cha mẹ, có gì đã có anh Quân của Thảo. Lời khuyên răn của bố mẹ càng làm Thảo như muối xát trong lòng, bên tình bên hiếu, biết làm sao đây ???

Lên tầu, Bình gặp ngay ông thuyền trưởng, cũng là thầy dạy chàng trong thời gian học trường hàng hải thương thuyền ở Phú Thọ. Vừa trông thấy Bình, ông yêu cầu anh xung công vào thủy thủ đoàn để giải quyết tình trạng hỗn loạn trên tầu. Tìm cho Thảo vào một góc ở cuối tầu, anh dặn Thảo chớ đừng đi đâu, ráng ở đây chờ anh, anh sẽ quay lại ngay, xong anh lao vội về phía trước, mất hút trong đám đông hỗn độn trên tàu.

….Tầu đã rời bến từ 7 giờ chiều, mọi người trên boong tầu lúc này đã ngưng xô đẩy nhau mà từ từ sắp xếp mình một chỗ tạm qua đêm. Một số người đã đi xuống khoang dưới. Chỗ Thảo ngồi là ở phía đuôi tầu, chỗ này người vẫn còn dồn cục, xếp như cá hộp.

Sau gần một ngày không ăn, không uống, tinh thần Thảo căng thẳng nên không thấy đói, cũng không biết mệt, ngay cả sự sợ hãi cũng không có, có lẽ những biến chuyển dồn dập không ngừng, ngoài sức tưởng tượng, xảy đến cho Thảo trong một thời gian quá ngắn, Thảo chỉ còn biết làm theo phản xạ, để mặc cho lớp người tràn xuống tầu vào phút cuối như nàng xô đẩy qua lại.

Khi màn đêm phủ xuống, mọi người đều im lặng, kẻ đứng, người nằm, ngồi la liệt, nét mặt đầy lo âu, căng thẳng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, chưa ai có tinh thần để bắt chuyện làm quen hay chào hỏi người chung quanh dù là hàng xóm không vách lúc này. Bình vẫn chưa quay trở lại với Thảo, không biết lúc này anh đang làm gì và đang ở đâu trên chiếc tàu to lớn này. Nghĩ đến cha mẹ già đang thui thủi một mình, tin tức anh Quân vẫn chưa có, rồi đây, một thân một mình trôi nổi theo Bình nơi xứ lạ quê người, Thảo thấy cay cay ở mắt mà không dám khóc. Mới xa thành phố hơn nửa ngày mà sao Thảo có cảm giác như đã quá lâu, không biết giờ này Sài Gòn đã ra sao rồi…

Hôm sau, khi tầu đã ra được đến hải phận quốc tế, không còn sợ bị sự chi phối, bắt buộc quay trở lại của chính quyền, cũng như bị VC bắn sẻ khi đi ngang khu rừng sát. Sau khi phân công chia cắt cho các thủy thủ đoàn tiếp tục lèo lái con thuyền của hơn một ngàn người chưa biết tới bờ bến nào. Vị thuyền trưởng khả kính lúc đó mới lo lắng việc tổ chức một đội ngủ những nhân lực trên tầu để giải quyết những vấn đề trước mắt:

- giải giới, đề phòng những quân nhân có vũ khí trong tay có thể uy hiếp chủ tầu thi hành những điều họ muốn.
- lo cơm nước, nấu cơm và phân phát
- Giải quyết vần đề vệ sinh.

Chiếc tầu Thảo đi là một chiếc tầu tư, có lẽ là đã có một số người có tiền, đóng trước cho chủ tầu để được xuống tầu từ vài ngày trước nên ngoài gia đình bà chủ tầu, gia đình thủy thủ đoàn, còn có những người có tiền mua vé, đa số là công chức cao cấp trng chính quyền, những người có thế lực và thành phần không ít được coi là trí thức: bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư, sĩ quan cấp tá v..v....

Hai người xung phong vào nhà bếp là hai người bạn,một tốt nghiệp QGHC và một là luật sư, họ còn trẻ và chưa có gia đình, đi một mình nên làm việc hăng say, nhiệt tình, bất vụ lợi, có chăng là chút cơm cháy, không sợ đói. Ngoài giờ ăn thì hai anh lau chùi, dọn dẹp sạch sẽ đài chỉ huy hay góp thêm bàn tay vào ban thuốc men do các bác sĩ và dược sĩ gom góp thành lập tủ thuốc.

Thấy Thảo ói liên miên dù là biển rất êm nên nhà bếp thường để dành cho Thảo ít cơm cháy. Nhờ nhấm cơm cháy mà Thảo tỉnh táo hẳn, bớt say sóng dần dần, để có thể ngồi dậy, mon men đến cám ơn hai ân nhân cứu đói và trao đổi những mẫu chuyện nho nhỏ trong lúc tình cờ gặp nhau.

Qua những câu chuyện đó Thảo học được bài học làm người và hơn bao giờ hết thấy được rằng „một miếng khi đói bằng một gói khi no“, lúc cùng cực khốn khổ nhất mới thấy được bản chất thật của con người. Thời thế tạo anh hùng, càng giàu sang, càng cao danh vọng thì lại càng nhiều sân si, ít chịu đựng, lại càng khong hieu het duoc y ngha cua hai chu hy sinh.

Trên tàu, người có tiền mua vé trước thì vừa có người làm mang theo, vừa có cả lương khô dự trữ, nên lúc đi lãnh cơm thì không tự mình đi lãnh mà sai người làm. Người làm chỉ việc kể số người trong gia đình chủ rồi đem cơm về. Đôi khi lãnh dư, ăn không hết, mà đem cho người khác thì sợ mang tiếng nên thà ….nuôi cá hơn là nuôi người.

Thảo hoàn toàn đồng ý với hai anh nhà bếp bất đắc dĩ về điểm „bằng cấp không làm nên tư cách con người“ hay „trí thức không phải là tri thức và „thành công chưa hẳn là thành nhân“.



Last edited by bichlieu on Thu Sep 12, 2013 2:19 pm; edited 2 times in total
Back to top
View user's profile Send private message
Phung Mai



Joined: 15 Aug 2005
Posts: 3481
Location: Houston

PostPosted: Sun Sep 08, 2013 12:52 pm    Post subject: Hội nhập cuộc sống mới ở hải ngoại. Reply with quote


Qua khung cửa nhỏ, chiếc cánh máy bay vươn thẳng mạnh mẽ như thách đố với sức cản của gió bão. Thùy Trang tay ôm con, nhìn qua khung kính, trời trong xanh, xa xa từng cụm mây trắng lững lờ trôi, nàng suy nghĩ mông lung cho những ngày sắp tới.
Tiếng động cơ đều đều ru hai mẹ con nàng vào giấc ngủ. Đêm qua gần như thức trắng đêm lo thu dọn hành lý, gọi là hành lý cho sang chứ thực tình chỉ có bốn xách tay đựng ít quần áo cũ, vật dụng vệ sinh cần thiết, ít bánh khô và mấy lọ sữa similac pha sẵn cho Bé Na. Văn phòng trại tỵ nạn báo tin chuyến bay từ Florida sẽ khởi hành lúc 9 giờ sáng, bay thẳng đến Houston. Đại gia đình Trang phải có mặt ở cổng trại từ 5 giờ sáng, đợi xe buýt đưa ra phi trường.

Xin chú ý...chú ý....âm thanh ngọt ngào của cô hôtesse de l'air làm Trang tỉnh giấc, bé Na vẫn ngủ vùi trong lòng mẹ, đôi má phúng phính ửng hồng, vài chùm tóc tơ phủ trán. Trang hôn nhẹ lên chiếc má thơm mùi sữa của con.

- Xin quý khách về chỗ ngồi, buộc dây an toàn và tắt tất cả dụng cụ bằng điện. Máy bay sắp hạ cánh, nhiệt độ Houston hiện giờ là 95 độ Fahrenheit tức 35 độ Celcius. Xin quý khách giữ dây an toàn cho đến lúc được lệnh cửi ra và xin chúc quý vị một ngày bình an, vui vẻ.

- Nhiệt độ ở đây cũng khá nóng anh nhỉ, giống như ở Saigon.

- Em quên rồi sao, vì khí hậu gần giống Saigon nên chúng mình mới chọn nơi này để định cư.

Sau một ngày, một đêm vất vả, nét bơ phờ hiện trên khuôn mặt mọi người. Chuyến bay dài hơn 3 tiếng, các cụ và trẻ con đều khá mệt.
Bước xuống phi trường, cái nóng hè hừng hực hắt vào mặt. Vì không có hành lý gửi nên gia đình Trang được hướng dẫn vào thẳng phòng đợi. Phòng có máy lạnh khiến mọi người tỉnh hẳn.

Mát quá bố ơi, Cu Bi reo lên, rút tay khỏi bố và chạy quanh phòng.
Đang nhìn quanh tìm chỗ ngồi cho các cụ thì một bà người Mỹ tiến đến gần , tay cầm tấm bìa cứng nho nhỏ có ghi tên anh Hòa và anh Tâm. Bà tự giới thiệu tên là Marcie Hamilton, nhân viên văn phòng sở xã hội của Houston, có nhiệm vụ hướng dẫn đại gia đình đến chỗ ở do nhà thờ bảo lãnh. Sau khi xác định đúng tên của hai người trưởng gia đình, bà hướng dẫn mọi người ra quầy kiểm tra giấy tờ. Nhìn lên Trang thấy bảng ghi hàng chữ Custom clearance USA.

- Welcome to Houston.
Kiểm soát viên, dáng người cao lớn, da ngăm đen, đưa mắt nhìn mọi người, chỉ chỗ cho gia đình Trang xếp hàng và sẽ vào từng người một trình giấy tờ.
Nhân viên kiểm soát làm việc nghiêm trang nhưng không kém phần thân mật, họ hỏi những câu thông thường như gia đình Trang đến nước Mỹ được bao lâu rồi, từ đâu đến và vì sao lại chọn Houston....Thủ tục độ 5 phút cho mỗi người, mất khoảng nửa tiếng thì xong.

Nhìn đống hồ tay, đã hơn 1 giờ trưa, bà Marcie nói:

- Chắc quý vị đói rồi, xin mời các bạn lên lầu hai dùng bữa trưa nhé.

- Vâng, cám ơn bà, trẻ con chắc vui lắm.

Thấy mọi người lúng túng với chiếc thang xoắn, không dám bước lên, bà Marcie dẫn cả nhóm đến thang máy.
Tiếng xịch ngừng của thang máy làm hai cụ mẹ giật mình. Rẽ sang phải, đến trước phòng ăn, cánh cửa ra vào bằng kính bỗng tự động mở, các cụ và trẻ con nhìn lên ngơ ngác. Hai anh Hòa và Tâm mỉm cười:

- Tối tân quá nhỉ, các cụ theo chúng con.

- Mẹ ơi, con đói quá, cu Bi thủ thỉ bên tai Trang.

- Sắp ăn rồi đây, vào xem có món gì nhá.

Phòng ăn khang trang, rộng rãi với hai dẫy dài bày thức ăn trong quầy kính, mọi người choáng ngợp với những khay đầy ắp các món mặn, ngọt, rau chín, rau sống. Cuối dẫy là các món tráng miệng với những miếng bánh ngọt đầy màu sắc, thật hấp dẫn. Cu Tý và Cu Bi tay chỉ chỉ món mình thích.

Bà Marcie trình bày, đây là bữa ăn đầu tiên đón mừng quý vị đến Houston, do chương trình tị nạn đông dương đài thọ. Xin quý vị chọn món, mỗi người 3 thứ, món mặn, món rau và món tráng miệng.
Chúc quý vị bữa trưa ngon miệng, tôi sẽ trở lại lúc 3 giờ chiều đưa quý vị đến nhà thờ, nơi sẽ lo nơi ăn, chốn ở cho quý vị.

- Con thích món này, Cu Tý và Cu Bi tay chỉ vào khay gà chiên dòn, bên cạnh là khay khoai tây, miếng vuông dài chiên vàng ngậy.

Các cụ chọn món gà mềm với rau hấp chín.
Các ông chọn món bò bí tết với rau sà lách trộn.
Trâm và Trang cũng chọn gà chiên dòn theo các con nhưng ăn với rau chín.
Món tráng miệng thì khỏi nói, bánh gateau nhân dừa, nhân kem, bánh flanc với vài quả dâu tươi đỏ trang trí cho đẹp. Trẻ con đòi ăn kem sô cô la.

- Từ ngày mình đi đến giờ đã 3 tháng rồi, hôm nay mới được bữa ăn ngon các con ạ, bố Trang mỉm cười, nhìn mọi người đang thưởng thức món ăn của mình.

- Sao món gà và khoai tây chiên dòn ngon quá, ở Việt Nam mình không làm món gà kiểu này bố nhỉ.

- Ừ nước mình thường ăn gà luộc , gà kho hay gà nướng. Bố nhìn thấy cũng lạ, nhưng chưa bao giờ được ăn thì thấy ngon, mai kia các con sẽ thấy cơm cá kho, rau muống luộc của mẹ các con là ngon nhất, không bao giờ chán các con ạ. À quên, còn món phở , nhớ quá, bao giờ mới được ăn lại.

- Thật sao bố, chỉ biết bây giờ con và các cháu thích món gà này quá. Nhưng khi mình tự túc, không biết có đủ tiền mua không.

Bà Marcie tế nhị, để mọi người ăn xong mới trở lại đón đi đến nhà thờ gặp ông bà Cunningham, đại diện nhà thờ lo nơi ăn chốn ở cho đại gia đình Trang.

(còn tiếp)


Last edited by Phung Mai on Wed Sep 18, 2013 3:15 am; edited 2 times in total
Back to top
View user's profile Send private message
MPhuong



Joined: 31 Aug 2007
Posts: 3921
Location: Orange county

PostPosted: Tue Sep 10, 2013 11:05 pm    Post subject: Reply with quote

Trời tháng 4 Saigon nóng như thiêu như đốt ,thỉnh thoảng đổ xuống những cơn mưa như trút nước, nhưng mặc cho trời mưa , măc cho trời nắng, chẳng còn ai để ý đến những cơn mưa nắng này, vì người ta đang hoang mang trong cơn ác mộng Sài Gòn đổi chủ .Mọi người đều hoang mang lo sợ , không biết số phận mình sẽ bị đưa đẩy đến đâu
Nhửng người có kinh nghiệm với Cộng Sản từ năm 1954 thì sợ rằng sẽ có cuộc trả thù đẫm máu , như cải cách ruộng đất năm 1954 ở ngoài Bắc
Một số người chưa có kinh nghiệm với Cộng sản thì tự an ùi , mình là công chức không làm hại ai thì đâu sợ tội
Vy cũng củng như mọi người , không biết rồi số phận mình trôi giạt về đâu , Vy về ở chung với bố mẹ , cùng bé Vân, suốt ngày quanh quẩn trong nhà không dám ló mặt sang hàng xóm , không khí nghi kỵ vây bọc chung quanh , thời điểm này có một lớp người mới xuất hiện được gọi là “ mấy thằng 30-4 “ , họ là nhửng người sinh sống và lớn lên ở miền Nam , có một số trong họ đã được VC gài vào nằm vùng đã lâu , một số khác thuộc nhóm người trở cờ , họ thấy VC vào , và bám theo để làm mật vụ …… , rình rập hàng xóm của mình , nếu hàng xóm có biểu lộ chống đối hay phản kháng , những tên nay báo cáo ngay với những tên cán bộ từ miền bắc vào , không khí nghi kỵ và rình rập bao trùm khắp mọi nơi
Từ hôm VC vào , Vy và Tùng đều không được lãnh lương , số tiền dành dụm từ bấy lâu nay chẵng được bao nhiêu đã phải mang ra mua gạo và thức ăn cho gia đình
Bé Vân được mẹ tích trữ cho hai thùng sữa Snow cũa Nhật , song bé chỉ thích bú mẹ , hơn nửa Vy cũng không dám cho con uống sữa nhiều , sợ không còn mua được nữa, nên mặc dù còn nhỏ, bé đã không uống sữa bình nữa , mà chỉ thích ăm cơm
Chợ búa thưa thớt người buôn bán , gạo thịt , tôm cá là những thức ăn rất bình thường ngày trước nay có tiền, muốn mua cũng không được
Dân chúng chỉ được mua hàng trong hợp tác xã , bán theo tiêu chuẩn đầu người , một tháng chỉ được mua vài chục ký gạo mốc , gạo đỏ , hoặc gạo độn với bo bo , hoặc khoai mì , bột mì , mì khô , một vài trăm gram bột giặt , vài chục gram bột ngọt , nhưng tất cả những mặt hàng này , được gọi là nhu yếu phẩm , không phải tháng nào cũng có
Thỉnh thoảng đêm đang ngủ , dân lại bị đánh thức dậy bởi tiếng loa chói tai đặt ở phường khóm, kêu đi xếp hàng mua cá , mua gạo mà làm gì có thứ ngon mà mua , toàn cá ươn , ươn đến nỗi lòi cả ruột ra , gạo thì là gạo hẩm , gạo mốc
Gia đình nhỏ của Vy cũng bị cuốn theo với những khốn khổ chung của cả miền Nam, nhà Vy bây giờ lo nhất là bé Vân , với những thứ thực phẩm ươn thối như vậy làm sao cho bé ăn , mà mua chợ đen thì đắt quá . Vy bắt đầu đem những hộp sữa của bé Vân đem ra bán cho những người buôn đi bán lại , để lấy tiền mua thêm thức ăn ngon hơn , tươi hơn một chút , cho gia đình , gạo hẩm mốc meo Vy vẫn phải đi mua theo khẩu phần ỡ hợp tác xã , xong lại len lén bán rẻ và bù thêm tiền mua gạo tốt ( những thứ thức ăn tươi hơn , gạo tốt hơn,Vy phải mua lén lút với giá chợ đen của những người quen biết ở chợ )
Dân chúng Sài Gòn thi nhau đem đồ dùng trong nhà ra bán , vì ai cũng hết tiền rồi ,từ cái TV , đến quạt máy , từ đồng hồ đến cái máy may , thượng vàng hạ cám , những cái chợ buôn bán đủ thứ thành lập ngay ỡ vỉa hè , người bán đi những đồ dùng trong nhà là dân miền Nam , người mua lại là những cán binh CS vừa mới vào được SaiGon , họ hầu như rất thèm thuồng thích thú với những đổ tiêu dùng của dân miền Nam , từ cái radio cũ mèm , đến những đồng hồ TV , quạt máy
Gia đình Vy cũng không tránh được ngoại lệ , bán hết hai thùng sữa của bé Vân , Vy bắt đầu phải bán bộ sa lon vẫn đặt trong phòng khách , một cái tủ đựng quấn áo, rồi đến bộ cassette cùng với hai cặp loa to Tùng dùng để trang trí trong phòng khách cũng được Vy bán một cách không thương tiếc , bởi vì VY đâu còn được giữ những tape nhạc mà dân chúng miền Nam vẫn ưa thích nữa đâu

Sách báo xuất bản trước năm 1975 , bị liệt kê là những văn hóa phẩm đồi trụy , người ta phải mang xé bỏ hoặc cân ký lô bán cho hàng mua ve chai , thậm chí những quyển tự điển Anh Việt , Việt Anh , Tự điển Bách Khoa cũng bị vất đi một cách vội vã
Hàng ngày loa phóng thanh của phường khóm ra rả, phát ra những lời lẽ nghe rất chối tai, kêu gọi dân chúng mang ra phường khóm nộp những văn hóa phẫm "đồi trụy" , những quyển tiễu thuyết của Mai Thảo , Nhả Ca , Nguyễn thị Hoàng , tủ sách quý của gia đình toàn bộ nhửng cuốn tiểu thuyết của Tự Lực văn Đoàn đã bị Vy và Tùng thay phiên nhau xé nhỏ vất vào thùng rác , băng nhạc và băng cassette cũng không tránh khỏi số phận nghiệt ngã trên , Thái Thanh , và ban Thăng Long , Anh Ngọc, Khánh Ly , nhạc trẻ của Jo Marcel ,Thanh Lan , từ từ được Vy dấu diếm đem vất vào những đống rác cao vời vợi ở chân cầu Trương Minh Giảng , người ta vội vàng vất bớt những cái được gọi là “ Tàn dư cũa Mỹ Ngụy “, để hy vọng rằng không bị VC ghép tội
Đồ đạc trong nhà Vy bắt đầu thưa dần , chỉ còn lại duy nhất bộ bàn để ngồi ăn cơm, và cái gường ngủ trên lầu
Tùng đã trở về từ Đà Lạt , được tin các em của Tùng đã đi theo với một người thân trong gia đình ra Nha Trang vào nhửng ngày đầu tháng năm tìm đường vượt biền , chưa biết sống chết ra sao
Khi Tùng về nhà , mẹ ôm Tùng mà khóc , cụ quá xúc động vì cả mấy tháng nay cũng không được biết tin tức của Tùng
Cái cảm giác xúc động cũng chẳng kéo dài được bao lâu , Tùng và bố mẹ lại phải bàn nhau tính toán sắp xếp gia đình như thế nào cho phù hợp với tình hình mới.
Ở lại vài hôm , dặn dò mẹ những chuyện cần thiết , như bán bớt đồ đạc trong nhà , dấu bớt của cải , trả lời về sự vắng mặt cũa mấy đứa em , Tùng chia tay bố mẹ để về Saigon , lúc ra về mẹ Tùng còn dúi cho anh 5 chỉ vàng nói để phòng khi bất trắc
................



Bé Vân nằm cạnh mẹ trở mình, ú ớ làm mơ gọi bố bố , tay cầm quạt phe phẩy cho con , lòng Vi chùng xuống , sờ trán bé Vân , thấy con đỡ nóng hơn lúc chiều , Vi cảm thấy yên tâm hơn , cố nhắm mắt tìm lại giấc ngủ, xong vẫn không ngủ được
Nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường , đã 4 giờ sáng , Vi bước ra khỏi gường, đi tìm lọ dầu xanh để xoa vào bụng , không hiểu tại sao thời gian gần đây cứ đến đêm là cơn đau bụng lại hành hạ Vy, những giấc ngủ chập chờn , đến với Vi hàng đêm làm cho Vi tiều tụy trông thấy rõ
Bây giờ là tháng tám , bố và Tùng đả không có mặt ở nhà đã hai tháng rồi . Nhớ hôm bố và Tùng đi trình diện tại ủy ban quan quản
mỗi người sách một cái túi đệm , trong đựng vài bộ quần áo , một ít đồ lót, bài chải và thuốc đánh răng , một ít mì gói , một túi gạo nhỏ , một cóng thịt kho , vài hộp cá Sumaco , một lọ thuốc nhức đầu , một chai dầu gió xanh , mẹ còn cố nhét thêm vào túi xách của bố và Tùng mổi người một hộp ruốc , và một hộp thịt gà kho mặn , cơm nắm để có thể ăn ngay ngày hôm sau , riêng bố còn được thêm vài bao thuốc lá, xong bố bắt bỏ thịt gà và ruốc lại ,sợ rằng có người nhìn thấy ăn uống “sang trọng “ quá sẽ báo cáo với cán bộ ……..
Tưởng rằng 10 ngày bố và Tùng sẽ , cũng như những người hạ sỉ quan , chỉ đi có ba ngày, xong từ ngày ấy đến bây giờ đã hai tháng , tin tức cũa hai bố con vẫn biệt vô âm tín

Thân nhân của các Sĩ Quan đổ xô nhau đi tìm chồng tìm con , họ đồn nhau đã thấy một số người đi làm rẫy , chặt tre trong rừng ở Tây Ninh
Người ta còn đồn rằng , một số sĩ quan còn được thấy ở BìnhLong , Long Khánh, và đã có một vài gia đình đã nhận được những mẩu giấy viết tay của thân nhân nhờ mang vể nhà để báo tin cho gia đình biết , họ đã bị giam ở đó , trong điều kiện sinh sống rất ngặt nghèo cuốc đất trồng khoai , trồng sắn , vào rừng đốn tre để làm gường , phải tự túc sinh sống trong nhửng vùng rừng núi hoang vu , dưới sự kiễm soát chặt chẽ cũa bộ đội miền Bắc
Ở nhà chỉ con toàn đàn bà con gái , chân yếu tay mềm , Vy lại đang mang thai đứa bé thứ hai , , Vy quyết định nghĩ dậy học vì không thể xuống Mỹ Tho , với đồng lương chết đói , không đũ để đi đi về về , còn mang bé Vân đi theo thì không thể
Sau một loạt bán bớt những đồ đạc trong nhà , để lấy tiền sinh sống Vi bàn với mẹ và hai em phải tìm cách gì để buôn bán , cho kiếm đủ tiền tiêu chứ ngồi ăn không thế này núi cũng lở
Vy tính đi bán chơ trời, mẹ thì sợ Vi vốn bản tính hiền lành , chân chất đang làm cô giáo , bây giờ chạy ra chợ trời lăn lóc với đời , không biết có cáng đáng nỗi không ?
Mai và Quỳnh ủng hộ chị , lý luận rằng ở nhà thì bán hết của đi ăn cũng hết , nên cứ thử thời vận xem sao ?
Vi thuê được mặt tiền của một căn nhà ngay trên mặt đườngTrương Minh Giảng , vị trí cũng có vẻ thuận tiện , người qua lại mua bán rất đông
Ngày khai trương , vỏn vẹn những món đồ Vy và các em bầy ra để bán chỉ lcó những chiếc áo dài lụa đủ mầu của Vy , toàn bộ những đôi dầy cao gót cũa ba chị em, vài cái ví sách tay và một số áo đầm của Đổ Quyên bỏ lại ,vài cái kính râm cũ cũa bố, cũa Tùng ,và một ít bát đĩa quí của mẹ chỉ dùng vào dịp giỗ tết
Tất cả được đặt trên một tấm bạt trải ở dưới đất , trước cửa căn nhà Vi thuê để làm chỗ buôn bán

Mẹ nhìn ba cô gái đem những món hàng là những vật thân thiết với các cô hàng ngày mang ra bầy bán , nói như mếu trong hai hàng nước mắt
_ Các con bầy bán những món này ai mua mà bán
_ Kệ cứ bầy như vậy cho có hàng mẹ ạ , để coi có ai mời mình mua thêm cái gì không , phải quan sát mấy ngày, mới biết đươc họ mua bán những thứ gì , rồi mình mới bắt chước được mẹ ạ
Không một chút kinh nghiệm , và ngây ngô như một cô học trò nhỏ vừa rời ghế nhà trường, ba chị em Vi lao vào buôn bán ở chợ trời , ai đem gì ra bán các cô cũng mua , sau đó bán lại cho người cần , dĩ nhiên phải có chút tiền lời
Đồng hồ đeo tay , radio đã cũ , là những mặt hàng nhiều người thích nhất, nhiều người hỏi mua nhất, lý do , đồng hồ , bút máy , kính râm đeo mắt là những vật trang sức ,là ước mơ cả đời của những người miền Bắc , cho dù có tiền họ cũng khó tìm mua , vì đây là những mặt hàng xa xỉ phẩm nhà nước không cung cấp , họa hoằn lắm mới tìm được ở ngoài chợ đen nhưng giá cao ngất ngưỡng làm sao họ có tiền mà mua được
Vào được miền Nam , hàng hóa chất đống ngoài chợ trời , cái gì cũng mới lạ , và thích thú đối với họ
Chi em Vi lao vào chợ trời chừng một tuần lễ thì cũng quen , và biết được nhu cầu của người mua , nên cũng kiếm được những món lời kha khá
Từ những chiếc máy may , TV, tủ lạnh , máy đan len , cái nào mua vào , bán lại cũng có lời
Số tiền nho nhỏ làm vốn lúc ban đầu , nay đã thấy tăng lên
Tuần lễ thừ ba sau ngày bán hàng ở chợ trời , hôm ấy Mai và Quỳnh đi mua hàng , chỉ có Vi ỡ lại bán hàng , trong lúc bận rộn , Vi đã bị kẻ gian đánh cắp một túi tiền mà Vi đã cất kỹ trong ngăn kéo của một bàn máy máy
Cũng may hôm ấy Mai và Quỳnh đã mang bớt một số tiền để đến nhà người ta mua hàng , nên số tiền Vi bị mất không nhiều lắm
Hôm ấy vì tiếc tiền , Vi vào văn phòng công an để trình bầy vụ tiền bị mất cắp , hy vọng công an sẽ tìm ra manh mối, nhưng không ngờ sau khi nghe Vi trình bầy
bọn công an dở giọng nạt nộ , còn bắt Vi giam ở văn phòng công an , cuối cùng vừa mất cũa , Vi vừa bị giữ lại đến đêm mới được thả ra ……. Tiền thì làm sao tìm thấy được
Tuần lể thứ tư có mặt ở chợ trời , hôm ấy được người bạn cũa mẹ gọi vào bán cho chiếc máy may singer cũ, trong lúc ngồi xích lô để đem về cửa hàng , trời mưa tầm tã , bác xích lô lạc tay lái đổ xe , máy may và Vi đều lăn xuống đất , bụng Vi lúc đó cũng khá to
Vi ngã xuống đất nhưng không lo cho mình và đứa con trong bụng mà chỉ lo, không biết cái máy may có bị hư hỏng không , tối hôm ấy về tới nhà Vi mới thấy đau bụng thật nhiều , mẹ lo quá bắt vào nhà thương Đức Chính khám bà mụ quen , rất may em bé không sao cả
Sau đợt đó , Vi bị mẹ bắt ở nhà trông bé Vân , để mẹ ra phụ Mai và Quỳnh
Vi ở nhà cũng không thể ăn không ngồi rồi , Vi cùng cô giáo Tiếp ở bên cạnhchung nhau tối nào cũng thức đêm để làm bánh mì ngọt , sáng mai cô giáo đi dậy sẽ mang vào trường bán cho học trò
Cuộc sống chỉ quay cuồng với miếng cơm manh áo ……..chẳng thể tưởng tượng được tương lại sẽ ra sao , cứ nghĩ đến Bố và Tùng cả nhà đều rưng rưng nước mắt


Last edited by MPhuong on Sat Sep 14, 2013 9:58 pm; edited 1 time in total
Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Thu Sep 12, 2013 4:05 am    Post subject: Reply with quote

Những ngày sau đó, cũng như các sinh viên VN khác, việc đầu tiên mà Thư làm là ….bỏ học, còn lòng dạ nào nữa mà học ? Tương lai mù mịt, viễn ảnh đen tối, nước đã mất rồi, bây giờ mình phải ra sao ? Tự hỏi rồi tự trả lời. Đâu là giải pháp đúng nhất ? Ai chỉ đường đi nước bước cho mình ? Toà đại sứ VN ở Bonn đã đổi chủ hay đã bị đóng cửa vĩnh viễn ? Xin tỵ nạn chính trị hay cứ nhẫn nhục “chờ thời”? Có cơ may dành lại SG hay SG thật sự đã mất ? Tiền đâu mà sống ? Gia đình mình đang ở đâu, sao chưa có tin tức, điều gì đã xảy ra cho cha mẹ Thư???? Hàng trăm câu hỏi xoay vần trong đầu mà không có câu trả lời đã làm Thư rã rời, chán chường, buồn bã như mất hồn.

Anh Huy của Thư lúc này đang có kỳ thi rất quan trọng của Y khoa, bỏ kỳ thi này anh phải chờ đến một năm sau mới thi lại được, nhưng anh cũng mặc kệ, bỏ học luôn. Hôm 30/04, trời đã tối xẩm, sau phần tin tức nóng bỏng của đài truyền hình Đức, Thư thay vội áo đi xe Bus đến nhà anh Huy. Bạn bè đang tụ tập nhà anh, căn phòng 20 mét vuông của anh đầy khói thuốc lá, vỏ chai bia nằm lỏng chỏng khắp nơi, trên bàn, dưới đất….Anh em gặp nhau, anh cố trấn an Thư, nhưng miệng anh nói mà nước mắt anh chảy quanh. Bây giờ Thư chỉ còn có anh, người thân yêu duy nhất của gia đình mà Thư được gần gủi.

Bức điện tín ngắn ngủi „cả nhà bình yên, ai ở đâu ở đó“ anh Huy đem đến khi Thư sửa soạn đi làm. Hai anh em châu đầu đọc tới đọc lui, tên người gởi của bức điện tín không phải của cha mẹ Thư mà là của ….bà bác cả. Bác cả của Thư không có chồng, bác sống chung với bà ngoại ở Phú Nhuận. Không lẽ bây giờ gia đình Thư về Phú Nhuận ở với bà ngoại ? Sao cha mẹ Thư không tự đánh điện tín cho anh em Thư ? Bức điện tín mập mờ, đầy ẩn ý với câu „ai ở đâu ở đó“ có nghĩa là gì ? Khuyên anh em Thư đừng kiếm cách về VN ? Hay muốn báo cho anh em Thư biết là cha mẹ Thư vẫn còn ở chỗ cũ ? Rồi câu „cả nhà bình yên“ càng làm anh em Thư điên đầu suy đoán. Đã „bình yên“ sao cha mẹ Thư không tự đánh điện tín sang mà phải nhờ bác cả ???? Có tin tức từ VN mà anh em Thư vẫn mù tịt tin tức gia đình. Như thế này là chắc chắn phải có chuyện gì xảy ra với gia đình Thư rồi !! Thư đành xách ví đi làm, việc làm mà Thư đã xin được gần một tháng nay, đi làm với tâm trạng ngổn ngang, lo lắng, nhưng bỏ làm thì không được, tiền đâu mà sống, Thư đành phó mặc cho dòng đời đưa đẩy….

Phiên là người bạn nhanh nhẹn, vui tính và rất có lòng giúp đỡ bạn bè, anh chàng không biết tìm đâu ra một chân làm „barkeeper“ trong câu lạc bộ của trường huấn luyện chuyên môn của hãng IBM. Trường chuyên đào tạo các chuyên viên kỹ thuật, mỗi khóa huấn luyện kéo dài từ 2 đến 4 tuần, nhân viên ăn ở ngay trong trường. Phiên làm việc ở câu lạc bộ từ 5g chiều đến 10g đêm, tối nào đi làm về ngang qua phòng Thư, Thư đều nghe tiếng huýt gió yêu đời của anh. Anh chàng này hình như không biết buồn bao giờ.

Gia đình Phiên sinh sống từ lâu ở Paris/Pháp. Tuy có gia đình ở Pháp nhưng Phiên phải sang Đức du học vì dạo đó chính phủ VNCH không có bang giao ngoại giao với Pháp. Phiên là người sung sướng nhất trong đám bạn sinh viên của Thư, Phiên không cô đơn, không thiếu tình gia đình, lại có học bổng của chính phủ nên ít lo lắng vấn đề tài chính. Nay VNCH mất rồi, học bổng cũng hết, Phiên lại nhanh nhẹn kiếm ra việc làm nên lúc nào anh chàng cũng vui như Tết. Nếu không có Phiên, có lẽ không bao giờ Thư xin được chân chạy bàn trong câu lạc bộ của trường IBM.

Từ ngày sang Đức du học, chưa bao giờ Thư nghĩ có ngày mình sẽ đi làm cái công việc tay chân „tồi tệ, thấp kém“ như thế này. Cái kiêu hãnh ngầm trong tâm tư Thư đã sớm vội tắt cùng với ngày đen tối 30/4. Công việc của Thư là công việc của một cô bồi bàn đúng nghĩa của nó: đến từng bàn chào khách, ghi chép món ăn món uống khách đặt, rồi bưng thức uống thức ăn cho khách, khách ăn xong thì tính tiền, thâu tiền…rồi dọn dẹp ly tách chén dĩa trên bàn.

Câu lạc bộ lúc nào cũng đông khách, nhất là những hôm TV chiếu trực tiếp những trận đá banh. Thư chạy vắc giò lên cổ, ghi chép „bon“ đặt hàng cẩn thận thế mà vẫn lộn tới lộn lui, vì không biết đĩa thức ăn trên tay là của bàn nào. Có những lúc mệt quá, Thư đứng thừ người trong góc, bắt gặp ánh mắt thông cảm và an ủi của Phiên từ quầy của bar, Thư lại lên tinh thần, tiếp tục….chạy bàn tiếp.

Những ngày đầu đi làm, nhận được tiền „tip“ của khách, nỗi tủi hờn không biết từ đâu kéo đến, mắt cay cay nhưng miệng Thư vẫn cố cười gượng cám ơn, không lẽ…..từ chối. Khách lạ nhìn Thư bằng cặp mắt ngạc nhiên, có lẽ ông ta đang nghĩ „sao cô bé này lại khóc ?“. Đi làm bồi bàn mà không muốn nhận tiền "tip", có lẽ chắc chỉ có Thư. Những lúc đó, Thư như muốn độn thổ, tay chân luống cuống, đành cầm mấy đồng bạc trên bàn mà nước mắt chỉ chực lăn dài trên má. Phiên đứng từ xa nhưng hình như anh chàng vẫn theo dõi Thư….Thư biết, nếu không có Phiên, có lẽ Thư đã bỏ cuộc ngay trong tuần lễ đầu tiên.

Thơ Định đến với Thư báo tin anh đã lên đến Berlin bình yên, anh cũng đã thuê được căn phòng nhỏ gần đại học, chỉ cách biên giới Đông Bá Linh không bao xa. Bây giờ hai đứa Thư có lẽ sẽ rất khó gặp nhau, đường đi cách trở khó khăn vạn dậm. Đoạn đường 600 km làm sao Định về thăm Thư được như những ngày còn học ở Stuttgart. Phương tiện di chuyển nhanh nhất vẫn là máy bay nhưng cả hai đứa Thư còn đều là sinh viên thì lấy tiền đâu ra mà đi thăm nhau thường xuyên. Đi xe hơi thì phải lái nguyên đoạn đường Transit có một không hai trên thế giới này….

(còn tiếp trong nay mai....)


Back to top
View user's profile Send private message
bichlieu



Joined: 30 Mar 2008
Posts: 6224
Location: CANADA

PostPosted: Sun Sep 15, 2013 4:42 am    Post subject: Reply with quote

........
Tàu từ từ ra khơi, đám đông chen chúc trên boong tầu cũng đã được chuyển xuống tầng dưói.

Thảo đưọc Bình dắt vào căn phòng nhỏ mà bà chủ tầu dành cho hai ngưòi ,đây là phòng của ông thuyền phó tên Vạn. Gia đình ông Vạn là nguòi miền Nam, không có kinh nghiệm sống với Cộng Sản, nên ông ở lại. Bình thu dọn sơ sài lại phòng đã khá ngăn nắp vì đây là phòng đang đươc xử dụng, chăn gối và quần áo của vị thuyền phó được Bình dùng và chia cho bác sĩ Hiếu một ít. Ông Hiếu xuống tầu vào phút chót chỉ mang theo đưọc người yêu, cả hai đều không có hành lý. Ông tình nguyện xung công vào ban lái tầu do Bình đứng ra huấn luyện nên khi hiểu rõ hoàn cảnh của ông, Bình dắt ông vào phòng chia nhau quần áo của vị thuyền phó chính thức của con tầu lúc này vắng mặt.

Trong phòng không có quần áo của đàn bà nên Thảo cũng chẳng chôm đựoc gì cho mình vì cô cũng cần có thêm quần áo để thay đỏi cũng như chia chác cho người yêu của Hiếu.

......Đến trưa, khi đài phát thanh Saigon loan tin tưóng Dương Văn Minh lên tiếng đầu hàng Việt Cộng thì cả tầu náo loạn.
Những ngưòi lính VNCH trên nguòi vẫn còn mặc quân phục tìm nhau, họ ôm nhau khóc, tất cả mọi nguòi đều bất động, nưóc mắt chảy thành hàng, có nguòi bật khóc thành tiếng.

Thôi, thế là hết, hy vọng cuối cùng về một Saigon trung lập cũng tan tành theo bọt nưóc . Thảo không khóc đươc, nưóc mắt ráo hoảnh. Từ lúc theo Bình xuống tầu, Thảo vẫn nghĩ là làm sao mà có thể đi thoát đưọc. Từ tháng 3, đồng bào lủ lưọt di tản từ miền Trung về Saigon, các tỉnh từ từ rơi vào tay đối phương, không có chuyện ra đi có trật tự như hồi di cư tư Bắc vào Nam.

Thảo bị Bình lôi đi ...không kịp suy nghỉ, tính toán, trong lòng Thảo cứ nghĩ là đi loanh quanh để tránh cảnh pháo kích, hổn loạn như lúc Bình Xuyên nổi loạn , Lúc ấy Thảo đang sống với gia đình ở Nancy đã phải chạy lện ở nhờ nhà nguòi quen với bố mẹ Thảo ở đưòng Yên Đổ hay năm Mậu Thân, lúc Việt Cộng đánh chiếm đài phát thanh quân đội thì nhà Thảo nằm ngay ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tự Đức, vừa gần đài phát thanh lại vừa gần mé bờ sông, ngay trên đưòng rút lui của VC nên cả nhà đã phải di tản không bao xa, chạy đến nhà ông chú họ của bố Thảo trên đuờng Đinh Tiên Hoàng và nhà bà dì của Thảo trên đưòng Mạc Đỉnh Chi.

.......Vài hôm sau khi tầu ra đến gần Vũng Tầu thì gặp đưọc đệ thất hạm đội của Mỹ, mọi nguòi nhốn nháo, ai cũng muốn đựơc sang tầu Mỷ vì chắc chắn là rộng rải hơn và nhất là không sơ đói khát như bây giờ.

Nhửng nguòi già và trẻ con đưọc ưu tiên xuống trưóc. Nhìn cảnh tưọng dân chúng chen chúc thi nhau xếp hàng để rời tầu, cảnh nhửng valy to lón, nặng nề phải vứt lại hay quăng xuống biển, chỉ còn nhửng cụ già, trẻ em được ngưòi nhà ôm chặt, bám vào sơi dây mành được treo sát thành tầu để đưa nguòi xuống chiếc xà lan.
Sơi dây mành đong đưa theo gió, theo sức nặng của đoàn nguòi xen lẩn nhửng tiếng gọi nhau, tiếng hét vì sơ hãi, tiếng la khóc của trẻ em, Thảo chóng mặt, không dám theo dỏi cảnh tượng trưóc mắt,
trở vào phòng, nằm xuống chiếc giưòng hẹp, nghĩ đến mẹ, đến anh Quân, không biết giờ này ra sao, lòng tràn ngập hoang mang, lo sợ cho cả thân phận mình, không biết rồi sẽ trôi nổi về đâu.....


Suy nghi lan man,cảnh tưọng hổn loạn trên boong tầu sáng nay lại
như hiện ra trưóc mắt : một nguòi đàn ông ngoai 30 một tay bế đúa con gái chừa day tháng,một tay nắm chặt túi sách nhẹ trong khi cô vọ trẻ ,mẹ của đúa bé sơ sinh đưọc một bà ngoại 50 tuổi chắc hẳn là mẹ của cô hay mẹ chồng dìu đi,họ đúng xếp hàng đẻ chờ xuống xà lan.
Một gia đình khác thì nguòi đàn bà tay bế ,tay dắt ,đúa nhỏ trên tay bà chừng hơn 1 tuổi,thằng anh bà dắt khoảng lên 3 ,con chị lên 5 và thằng anh lớn nhất thì bà dúi vào tay mỏi đúa hai cái túi sách nhỏ,mắt bà dớn dác tìm xem chồng bà ở đâu,không thấy bóng dáng ông tring đám nguòi chen chúc ,bà mất bình tỉnh than tròi *Giòi đất oi,ngu gì mà ngu quá thế! Thế này thì có khổ không hả tròi ?Ăn c,,,ản đái gi mà ngu thế !có ra đây trông con để cho tôi
còn quo đưọc giấy tờ cần,vàng bạc ,dollard phòng thân chứ ông oi..* Bà gào thét,kêu ông như nguòi mê sảng,một lúc mói thấy ông
khệ nệ ôm chiếc va ly to tưóng,kềnh càng .chiếc samsonite,ông đỏ mặt vì nhửng lòi mắng nhiếc của bà ,bế vọi dứa bé trên tay ,trao chiếc samsonite cho vợ đẻ bà...thu xếp.

Sau này Thảo đưọc nghe kể lại .ông đầu tiên là bác sỉ thẩm mỷ,cô vợ trẻ là bệnh nhân trưóc đây của ông và bà cụ đích thực là bà mẹ vọ.Me goá con côi,bà lưỏng lự không biết nên ở lại hay nên đi vì lần ra đi này nguy hiểm quá,sống chết không biết ra sao,không phãi như lần di cư từ Bắc vào Nam .Theo con ra bến tầu bà không đành lòng xa đúa con nhất là đúa cháu ngoại đầu và duy nhất nên đả đi theo. Cái túi sách mà ông b.s khư khư giủ chặt là túi silicone vật bất ly thân để ông có thể tiếp tục hành nghề nuôi sống vọ con noi đất khách,quê nguòi.
Bà thứ hai là vơ của một công chức cao cấp trong chính phủ .
Thảo đả từng chứng kiến cảnh mẹ Thảo lúc quýnh quáng vì quá sợ hải,bà nói không ra tiếng,muốn gọi nguòi đến giúp đỏ thì líu là luỏi
chử nọ dính vào chử kia nghe ú ó và chân nam đá chân xiêu,nghỉa là chân phải dẩm lên chân trái ,cứ liên tiếp ...dậm chân tại chổ và củng nghe nói là có môt số nguòi mắc bệnh nói nhịu,lúc mất bình tỉnh thì nói ,lập đo lập lại nhiều lần mà đa phần là nói tục nhưng đây là lần đầu tiên chứng kiến cảnh một bà bình thuờng hiền lành,
dịu dàng,nhỏ nhẹ ,chạc tuổi chị mình,có chút thật thà dể nến mà lúc quýnh quáng lại trở nên dử dằn,đanh đá và nói nhịu kiểu này .
Phai châng vì Thảo chưa có con ,vì ra đi vói hai bàn tay trắng ,không một chút tuỳ thân nên mói có thể bình tỉnh và tự tại như thế này ,không hề nghỉ đến chuyện sang tau Mỷ mà tu nguyen gan bo voi con tau dinh mênh chua biet đua mình tói bến bờ nào....
Back to top
View user's profile Send private message
Phung Mai



Joined: 15 Aug 2005
Posts: 3481
Location: Houston

PostPosted: Tue Sep 17, 2013 3:49 am    Post subject: Hội nhập cuộc sống mới ở hải ngoại Reply with quote


Nhà thờ First Baptist Church tọa lạc trong một khu phố yên tĩnh. Xung quanh là những ngôi nhà một hoặc hai tầng, gạch màu đỏ cam hoặc nâu nhạt nổi bật trên những thảm cỏ mịn, xanh mướt. Mảnh vườn hoa trước cửa được cắt xén gọn gàng, vài ba cụm hồng đại đóa màu hồng phấn hay vàng nhạt tô điểm thêm cho nét sang trọng của khu phố.
Xe rẽ vào cổng nhà thờ, cùng màu gạch nâu, mái nâu đậm, ngôi nhà thờ đứng trang nghiêm, an bình. Ông bà Cunningham đã đứng đợi và vui vẻ bắt tay đón chào. Nhìn ông bà đã thấy mến ngay, dáng người dong dỏng cao với nụ cười nhân hậu luôn nở trên môi.

- Đón mừng các bạn đến Houston, sao khí hậu ở đây có nóng quá không?
Mùa hè Houston là thế nhưng hơn tháng nữa, bước vào thu sẽ dễ chịu hơn, mời các bạn vào trong cho mát.

Sau khi giới thiệu sơ qua về nhà thờ, đưa mỗi người một chai nước lọc, ông vào đề:

- Chắc các bạn đã mệt mỏi, chúng ta vào đề ngay nhé. Nhà thờ đã đồng ý thuê 2 căn hộ (apartments) mỗi căn 3 phòng là nơi tạm cư trong thời gian đầu cho hai gia đình. Cư xá gần chợ và có đường xe buýt để tiện việc đi lại. Chúng tôi sẽ đưa các bạn đến đó ngay chiều nay.

Cư xá thuộc loại trung bình nhưng sạch sẽ. Như trút được gánh nặng trên vai, mọi người thở phào nhẹ nhõm, bước vào nhận phòng. Tiếng máy lạnh chạy, tỏa hơi gió mát, tỉnh táo hơn Trang nhìn quanh, dắt con đi từng phòng xem. Bố mẹ Trang chọn 1 căn cùng ở với gia đình anh chị Hòa Trâm. Gia đình Tâm Trang căn kia, ở cùng với bà nội các cháu.
Mọi người đang phấn khởi xem nhà thì ông Cunningham nắm tay anh Hòa và Tâm xuống xe, nói nhờ các anh phụ một tay chuyển ít đồ đạc lên. Thật bất ngờ, không ngờ họ chu đáo đến thế. Dân tị nạn VN mới sang nên nhà thờ chưa biết nhiều về thực phẩm của dân Việt nhưng cũng chuẩn bị một ít nhu yếu phẩm và đồ dùng cần thiết.

- Các bạn nghỉ ngơi, vài hôm nữa chúng tôi sẽ có người đến chỉ dẫn và giúp đỡ thêm về việc mua bán và những sinh hoạt ở đây.

- Xin cám ơn ông bà Cunningham rất nhiều, chúng tôi không bao giờ quên công ơn này, hai anh Hòa và Tâm thay mặt cho cả gia đình cám ơn và tiễn ông bà ra xe.

Ba hôm sau, một cặp vợ chồng khác đến chơi, chị Hường giới thiệu ông chồng người Mỹ, tên Jack Smith, từng phục vụ trong quân đội chiến đấu ở Việt Nam. Biết nhau khi chị còn làm cho USAID, anh phục vụ trong ngành truyền thông. Lân la trò chuyện để biết thêm về văn hóa Việt, thế là anh chị mến nhau và đi đến hôn nhân. Sau nhiệm kỳ hai năm, họ trở về Mỹ năm 1972. Biết chị là người Việt nên nhà thờ nhờ anh chị đến giúp đỡ gia đình Trang. Sinh trưởng ở Saigon, tính tình chân thành và niềm nở, chị Hường nói, rất mừng được gặp người đồng hương vì người Việt chưa đến Houston nhiều. Trò chuyện một lát, không biết mẹ Trang thì thầm với chị ra sao, chị phá lên cười:

- Nước mắm hở bác ??? Ở đây hiếm lắm, hồi mới qua, con cũng tìm đỏ con mắt mà hổng thấy.
Cách đây mấy tháng có một tiệm bán đồ Thái Lan mới mở, con tìm được một chai nhỏ, để cuối tuần con dẫn bác đi mua.
Bác biết hông, con đang tập cho chồng con ăn nước mắm đó. Nước mắm hiếm nên con pha " một chúc xíu " hà... cho thêm nước dừa hộp trong, thêm dấm, đường bác à, thêm ớt nữa, mà Jack ăn cay nhiều hổng được.

Mấy hôm sau chị đến dẫn hai cụ bà đi chợ trên khu Chinatown. Thức ăn Việt chưa thấy bán, hầu hết là thức ăn Tàu và Nhật. Các cụ chọn được mấy gói mì khô và hai chai tàu vị yểu. Cụ vui mừng tìm thấy gói cánh hồi nho nhỏ và gừng tươi. Thế là hy vọng có món phở cho cụ ông và các cháu bé nhưng tìm mãi không thấy bánh phở.
Tìm bún và bánh phở không thấy, chị Hường chỉ vào mấy hộp mì loại dẹp của Nhật.
Có đủ ba cỡ, sợi dẹp to bản, sợi dẹp trung nình và loại sợi tròn nhỏ và thẳng. Tất cả đều làm bằng bột mì chứ không phải bột gạo. Chị nói phải dùng tạm những loại mì Nhật này, luộc lên thay thế cho bánh ướt nếu dùng loại to bản, cho bánh phở loại dẹp trung bình và loại tròn nhỏ thay cho bún.
Sang đến tiệm Thái Lan, các cụ mua được chai nước mắm và bao gạo. Còn những thức ăn tươi sẽ mua ở siêu thị Mỹ gần nhà. Đời sống dần dần tạm ổn định.

(còn tiếp)


Last edited by Phung Mai on Sun Sep 22, 2013 8:53 am; edited 1 time in total
Back to top
View user's profile Send private message
Phung Mai



Joined: 15 Aug 2005
Posts: 3481
Location: Houston

PostPosted: Wed Sep 18, 2013 3:53 am    Post subject: Reply with quote


Tiếng sột soạt của cành cây cọ vào vách tường gần cửa sổ phòng ngủ đánh thức Trang dậy.

- Anh ơi, hình như gió to, không khéo có mưa, trời nóng quá, nếu được cơn mưa, còn gì bằng.

- Ừ, sao dậy sớm thế, hôm nay thứ mấy em nhỉ.

- Thứ bẩy rồi, hôm nay mình có việc gì không anh ?

- Có, có một việc cần bàn với em. Hôm qua Ông Cunningham liên lạc với anh và cho biết ngân khoản nhà thờ dành cho hai gia đình mình, hai tháng nữa sẽ chấm dứt. Phần giúp đỡ về thực phẩm còn kéo dài đến tháng 12, nhưng tiền nhà chúng ta bắt đầu phải lo. Ông ấy hứa sẽ hướng dẫn chúng ta tìm việc.

Thật là một tin bất chợt, dù biết nhà thờ chỉ giúp ngắn hạn nhưng khi việc xảy đến không tránh được sự lo âu. Trầm ngâm, rời khỏi giường Trang ra đứng cạnh cửa sổ. Ngày cuối tuần, cư xá vẫn còn say ngủ, bầu trời như sũng nước, mây dăng thấp, lất phất dăm chiếc lá chao mình trong cơn gió. Tiếng mưa lộp độp hắt vào cửa kính như cảnh tỉnh Trang. Đã đến lúc phải đối đầu với thực tế, phải tìm việc nhanh chóng.

Mấy hôm sau, cả nhóm đến gặp Ông bà Cunningham bàn về vấn đề xin việc làm. Được Ông cho biết, trường hợp của gia đình Anh Hòa chị Trâm, muốn trở lại nghề dạy học không phải dễ. Anh chị phải có bằng teaching certificate, trường mới nhận.
Trường hợp của Tâm và Trang lại càng khó hơn. Muốn trở lại ngành nha và dược, cần rất nhiều thời gian để học lại.
Trên đường về, không ai bảo ai, đều có chung ý nghĩ, tạm thời phải nhận bất cứ công việc gì trong khả năng để sống trước đã. Việc đi học, trở lại nghề cũ sẽ tính sau.
Ba tuần lang thang đi tìm việc theo sự hướng dẫn của chị Hường, cuối cùng chị Trâm và Trang quyết định nhận việc làm cho tiệm Dairy Queen, bán kem và thức ăn nhanh ngay đầu ngõ gần cư xá để tiện việc đi lại.

- Nhận tạm việc này đi em ạ, lo cho trẻ con đi học đã rồi chúng mình sẽ đi học lại, tìm việc khác.

- Em củng nghĩ thế, dù bằng với giá lương tối thiểu em sẽ thử xem sao, chứ nghĩ đến hằng ngày đứng đợi xe buýt đi làm xa, em không đủ thì giờ lo thêm cho hai cháu.

Tối đến, Trâm và Trang trình bày quyết định với các cụ cùng Anh Hòa và Tâm.

- Chúng con nhờ bố mẹ trông các cháu, tuần tới là tựu trường, chúng con sẽ ghi tên cho cu Tý và Cu Bi đi học. Bé Na chúng con xin nhờ bà nội và bà ngoại trông nom hộ.

- Yên tâm, để bố mẹ lo cho, các con cứ đi làm. Còn hai cậu Hòa và Tâm có tin tức gì chưa.

- Dạ chưa hẳn, có vài chỗ nhưng phải đi hơi xa, chúng con đang suy tính.

Tuần sau đó, Anh Hòa và Tâm lo việc học cho hai bé trai. Trang và chị Trâm bắt đầu đi làm.
Tưởng việc phụ bán hàng, dọn dẹp là việc dễ, ai cũng làm được nhưng tuần lễ đầu hai chị em chớ phở, ngỡ ngàng. Trang được giao cho nhiệm vụ lấy order của khách hàng, chuyển xuống nhà bếp. Sau đó nhận thức ăn giao cho khách. Tối đến phụ giúp dọn dẹp.
Chị Trâm thì phụ bếp, tối đến cũng dọn dẹp phòng ăn và nhà bếp.

Vốn liếng tiếng Anh còn lõm bõm, câu được câu chăng, nghe chưa rõ, nói chưa thông, Trang sợ nhất là lúc phải lấy order của khách.

- May I have 1 Flame Thrower chicken and a Banana Split.

Trang thần mặt, món gì đây ?..... nghe không hiểu gì cả, đành phải nói bằng tay vậy.

- Sorry sir.... và nàng cầm tờ thực đơn có in hình các món ăn nhờ khách chỉ vào món họ chọn, hý hoáy chép vào tờ order và đem xuống bếp. Một lát cô làm bếp lên, đưa tờ giấy hỏi Trang:

- " How many each"?

- One of each please, ông khách đứng gần quầy trả lời hộ. Trang ngượng ngùng vì biết ông manager đang đứng đằng sau.

Lát sau, một bà dẫn hai con nhỏ vào, hai đứa trẻ háo hức chạy quanh, bà mẹ vừa nắm tay con vừa nói với lại.

- May we have 2 Iron Grilled Supremes and 2 DQ treats.

Khổ rồi... bà ấy nói gì, nhanh quá nghe không rõ. Lại một phen sorry.... với bà khách và đưa tờ thực đơn ra nhờ bà ấy chỉ món.
Chiều đến, hai chị em được giao cho việc rửa các khay, chảo nấu nướng.

- Chị ơi, cái chảo to quá, em bưng lên không nổi.
- Đưa chị giúp một tay.

Hai chị em khiêng lên, giúp nhau rửa dọn sạch bếp. Trâm nhìn em ái ngại, khổ thân cho con bé, ở nhà mẹ chiều, chị lo cho mọi việc, bây giờ chớm mùi cực khổ. Nhưng biết làm sao, cờ đến tay thì phải phất.
Về đến nhà đã sẩm tối, hai chị em mệt nhoài, không cựa quậy nổi. Bà ngoại bế bé Na đến nằm cạnh mẹ, Trang chỉ đủ sức ôm nhẹ con vào lòng. Tâm nhìn Trang ái ngại, nhẹ đấm lưng cho vợ.
Hai hôm đầu kéo dài với những Sorry..Sorry....của Trang. Sáng hôm sau vừa bước vào cửa, ông Manager mời hai chị em vào. Nhìn nhau, hai chị em cũng đoán phần nào việc gì sẽ đến, nhưng thấy ông cười hiền lành bảo:

- Tôi biết sự khó khăn của hai người vì chưa quen với tên các món ăn. Nhưng thấy hai bạn làm việc chăm chỉ, vậy từ ngày mai hai bạn lo việc trong bếp và tối đến dọn dẹp sạch sẽ quán ăn. Trong khi đó ráng học thuộc những tên trong thực đơn nhé.

Biết lòng tốt của manager, Trang và chị Trâm gật đầu nhận lời tiếp tục làm. Thầm tự nhủ, sẽ có một ngày....sẽ có một ngày....
Nàng tự trách, sao vấn đề rất dễ mà mình không làm được. Đứa bé nghe cũng hiểu là món gì, sao mình lại vụng về đến thế.
Vấn đề là sinh ngữ... sinh ngữ.... kém Anh văn mình như người khuyết tật, vừa câm vừa điếc. Phải tìm cách khuất phục vấn đề này mới được.

(còn tiếp)

Back to top
View user's profile Send private message
Phung Mai



Joined: 15 Aug 2005
Posts: 3481
Location: Houston

PostPosted: Sun Sep 22, 2013 8:31 am    Post subject: Reply with quote

Đầu tháng chín, các trường trung và tiểu học đã vào niên khóa mới. Khác với những niên khóa trước, năm nay xuất hiện một số học sinh Việt Nam bé nhỏ, gầy còm mới từ trong trại ra. Riêng tháng đầu, tổng số học sinh Việt các trường nhận vào đến mấy chục học sinh, đủ mọi trình độ, từ lớp mẫu giáo đến lớp 12, năm cuối của các trường trung học Việt Nam.
Trình độ Anh văn còn quá thấp nếu không nói là chưa đủ khả năng. Nha học chính Houston có một chương trình song ngữ (bilingual language) cho trẻ em Mễ nhưng chưa có cho trẻ em Việt.
Phần đông học sinh và phụ huynh Việt chưa thông thạo tiếng Anh nên là một điều khó khăn cho nhà trường thông cảm với học sinh và phụ huynh.

Nhập học được hai tuần, Ông Cunningham liên lạc với Anh Hòa, cho biết Nha học chính Houston đang cần một người có kinh nghiệm về giáo dục, thông hiểu hai thứ tiếng Anh và Việt để sẽ là cái gạch nối giữa trường học, phụ huynh và học sinh. Ông giúp anh làm bản lý lịch, tóm lược kinh nghiệm những công việc đã làm ở Việt Nam, ông bảo đó là tờ Résume'.
Ông dặn anh Tâm cũng làm résume' của mình và hứa sẽ tìm việc cho anh sau.

Thật may mắn, sau hai lần phỏng vấn Anh Hòa nhận được việc làm với Houston Independent School District (HISD). Sở khá xa phải đi hai lần xe buýt mới đến. Công việc là Coordinator trong chương trình giáo dục cho học sinh tị nạn. Anh phải đến những trường học có vấn đề với học sinh Việt, liên lạc với phụ huynh bổ túc hồ sơ hay giúp đỡ họ nếu con em có sự khó khăn trong lớp. Giúp trường tổ chức những lớp học về billingual language cho trẻ em Việt
Dù chưa được dạy học nhưng công việc cũng liên hệ đến ngành giáo dục, và phần nào giúp đỡ được đồng hương tị nạn như mình, anh rất thích.

Gần một tháng sau khi các sinh viên đại học Houston nhập học, ông Cunningham đến gặp anh Tâm cho biết đại học Houston University đang có một chỗ trống, cần người phụ tá trong phòng thí nghiệm của sinh viên. Nơi làm việc cũng khá xa nhà, nhưng Tâm vẫn hoan hỉ nhận vì công việc có liên hệ đến ngành y khoa. Hy vọng về sau có bước tiến thêm gần với ngành nghề cũ.

Thấm thoát đã vào tháng 10, trời Houston bắt đầu chớm thu, cuối chiều, một cơn mưa bóng mây lướt nhanh, chỉ mấy phút sau, trời bật sáng sủa hơn với những tia nắng chiều hấp háy, nghiêng nghiêng xuyên qua kẽ lá, ngọn cây. Vài cơn gió thoảng nhè nhẹ, dịu lòng hai chị em Trang đang rảo bước về nhà.
Bữa cơm chiều hôm đó chỉ với đĩa bắp cải luộc chấm trứng luộc dầm nước mắm và đĩa thịt gà kho mặn với gừng, rắc tý tiêu thơm phức mà mọi người ăn ngon lành.
Houston vẫn chưa có thức ăn Việt, tuy nhiên với tài biến chế, các cụ cũng làm thành những món ăn Việt đậm đà ngon miệng. Trứng và thịt gà là hai thứ rất rẻ ở chợ Mỹ. Vì phải đi bộ, đi xe buýt nhiều, hai anh Hòa và Tâm đánh mỗi người bốn bát cơm dễ dàng.

- Ăn thêm đi các con, lấy sức đi làm. Gạo Mỹ cũng rẻ lắm, mẹ mua bao Blue Ribbons to tướng, 25 Lbs có hơn 4 đô thôi. Không thơm như gạo nàng hương của mình, nhưng cho thêm tý nước cũng dẻo, ăn được.
- Này Bé Na, Cu Tý, Cu Bi, trông bà có món gì cho các cháu đây.

Cụ đem ra hai lọ, một lọ ruốc gà và một lọ muối vừng. Hôm nay thấy gà rẻ, cụ mua hai con, lấy phần ức gà nạc làm cho các cháu lọ ruốc. Các cụ lại thích ăn cơm vừng nên làm thêm lọ muối vừng, mở ra thơm phức.

- Con ăn cơm với ruốc, con cũng thế, con nữa..... ba đứa bé nhao nhao chìa bát cơm xin bà tí ruốc.

- Mẹ làm thêm muối vừng mẹ nhá, chúng con gói cơm nắm muối vừng ăn trưa cho dễ. Chị Trâm nói.

Không khí ấm cúng hẳn lên với niềm vui cả 4 người đều có công ăn việc làm.
Trang và Trâm sửa soạn ít quần áo ấm cho cả nhà. Những bộ quần áo xin được từ các cơ quan thiện nguyện Purple Heart và Salvation Army. Có nhiều bộ, phải sửa lại mới mặc vừa , nhưng vải vẫn còn khá tốt.

Yên tâm phần nào vì Tâm đã có việc, Trang dò hỏi, được biết Đại Học Cộng Đồng Houston (Houston community College) có những lớp huấn nghệ vào buổi tối sau giờ làm việc. Học phí có thể kham nổi. Bàn với Tâm giúp bà nội trông nom thêm hai con sau giờ làm việc, Trang ghi tên mỗi tuần 3 buổi chiều học thêm lớp Anh văn. Mỗi khóa 3 tháng, Trang chăm chỉ đến lớp, nơi trường Trung học gần nhà. Bắt đầu làm quen với những tên trong thực đơn, Trang xin được trở lại công việc phía quầy đằng trước lấy order.
Ông manager đã "thăng chức" cho Trang từ cô dọn dẹp nhà bếp lên cô cashier, lấy order và bấm máy nhận tiền khách hàng.
Chị Trâm không còn là phụ bếp mà lên chức bà bếp chính, đỡ khổ nhất là hai chị em không phải dọn dẹp nữa.

(còn tiếp)


Last edited by Phung Mai on Mon Sep 23, 2013 4:33 pm; edited 1 time in total
Back to top
View user's profile Send private message
HSV



Joined: 10 Mar 2009
Posts: 2928

PostPosted: Mon Sep 23, 2013 4:51 am    Post subject: Reply with quote

Hà nhìn tên người gửi trên gói quà : Thanh Phương từ New Jersey ! Hà vội vàng mở gói quà trong khi các con đang chạy ùa vào : Gói quà một nửa là bánh kẹo bác Phương gửi cho đám trẻ, một cái quần jean cho bé Vũ, hai cái áo đầm cho bé Minh Thu và Minh Châu, mấy thước vải soie đen, vài hộp phấn son cho Hà và một máy cạo râu bằng điện cho chồng Hà .
Bé Vũ mặc ngay cái quần jean vào người, còn hơi rộng và dài trùm cả chân nhưng cứ rối rít :
- Mai con mặc đi học nhe Mẹ .
- Còn dài lắm con ạ, chắc phải một hai năm nữa mới vừa, con để dành nhé, mẹ sẽ cất vào tủ cho con .
- Thôi mẹ cứ gấp gấu lên, con mặc được mà .
Hà nhìn thằng bé, thật tội nghiệp, ngày xưa thì quần áo đẹp đầy tủ mà từ ngày bố đi tù cải tạo, mẹ bán hiệu thuốc, chỉ có hè và Tết, Hà mới sắm quần áo mới cho con, mà toàn những thứ rẻ tiền chứ đâu có hàng hiệu gì như trước .
Hai cô con gái cứ ướm mãi hai cái áo đầm mới trước gương, bé Minh Thu thật tội, mấy lần trước các bác ở bên Tây gửi áo đẹp về mẹ toàn đem đi bán ! lần này nó nhìn mẹ ngần ngừ :
- Mẹ ơi, cái áo này con mặc Tết nhé .
- Thôi con ạ, Hà vuốt tóc con bé, cái áo bác Thịnh cho con còn đẹp lắm, Tết này vẫn còn vừa con ạ . Đó là cái áo duy nhất Hà giữ lại vì có một vết mực ở ngay ngực do bé Vũ vẽ vào nên họ không chịu mua !
Từ ngày mất nước Hà không mua áo đầm cho con nữa mà toàn may lấy . Hà đã được cô Tâm dậy may từ nhỏ nên cũng may áo đủ kiểu cho các con . May có sẵn mấy xấp vải đã mua từ lâu nên Hà may cả áo đầm, quần tây, đồ bộ ... cho đám trẻ . Dạo này đi học trẻ con trong xóm toàn mặc đồ bộ, nhìn mãi cũng quen mắt .

Hà nhẩm tính sẽ để lại cái quần jean cho bé Vũ, nó mê cái quần jean từ lâu mà đòi mãi mẹ cứ khất lần, may quá sao bác Phương lại biết đúng ý nó thế, cái quần này mà bán thì thằng bé ăn vạ có lẽ đến cả năm . Hai cái áo đầm Hà sẽ đem ra khu Tạ Thu Thâu để bán, chắc được giá vì hai cái áo đầm đẹp quá . Bé Minh Thu rất ngoan, mẹ năn nỉ bán đi mua quà thăm nuôi bố nó sẽ bằng lòng còn con bé Minh Châu còn nhỏ quá, ôm cái áo khư khư như thế nhưng ngủ say một giấc xong là quên ngay . Xấp soie đen Hà sẽ đem bán cho mấy cô y tá ở bệnh viện, họ cứ dặn mãi . Mấy gói bánh kẹo cũng sẽ bán bớt, để lại một gói ăn Tết thôi . Chỉ có cái máy cạo râu và mấy hộp phấn son Hà chưa biết bán ở đâu, chắc sẽ gửi nhờ Vi, cô bạn thân bán hộ rồi lấy tiền sau, nghe nói mấy chị em Vi mới bày hàng bán trước nhà mà Hà bận quá chưa ghé thăm được, kỳ này vừa đến chơi vừa nhờ Vi bán quà của Thanh Phương gửi cho, hy vọng sẽ được giá . Hà sẽ đem một gói kẹo cho con Vi, kẹo Mỹ chắc trẻ con thích lắm .
Hà mừng thầm, chắc kỳ này được kha khá tiền, đỡ phải bán vàng đi thăm nuôi chồng kỳ tới . Đám trẻ cũng sẽ được mẹ cho tiêu xài rộng rãi hơn . Ngọc cũng sẽ mua cho chúng mấy cái cặp táp mới, cặp cũ đã sờn rách, còn phải thay mấy đôi săng đan đi học đã chật ...

Hà cảm động nhớ tới Thanh Phương, một người bạn rất thân đã thoát đi kịp vào chuyến cuối cùng ở toà Đại sứ Mỹ . Thư trước Phương có nói xa xôi là sau khi ghép vào danh sách cùng đi với người chị chồng làm ở sở Mỹ, đứng xếp hàng hai bên mà gia đình Phương may mắn vừa vào trong máy bay thì họ hết chỗ đóng cửa lại, trong khi gia đình chị chồng còn kẹt lại bên dưới !
Phương kể hai vợ chồng đang đi làm lao động kiếm sống, chưa đi học lại được .

Hà kẹt lại sau khi cả nhà đã đôn đáo khắp nơi mà không tìm ra đường đi. Ôm một đống giấy tờ bảo lãnh của các anh gửi về mà chen vào toà Đại sứ Mỹ không nổi, gia đình Hà đành ra về . Vậy mà sau họ bảo giấy tờ từ bên Mỹ gửi về thì cứ ra thẳng phi trường là Mỹ cho lên máy bay luôn , không phải thị thực gì ở toà đại sứ Mỹ nữa, lúc Hà biết thì đã muộn !
Nghe tả cảnh dân miền Trung đè bẹp nhau, tranh nhau lên máy bay đi về phía nam trốn tránh Cộng sản, còn bao nhiêu tầu thuyền chật cứng người, bao nhiêu người chết vì nắng gió, vì đói khát trên tầu khiến gia đình Hà không dám nghĩ đến chuyện cho đám trẻ con đi bằng tầu thuyền nữa.

Đang đi dậy ở phòng Kỹ nghệ Dược, lúc Cộng Sản vào Hà cùng tất cả ban giảng huấn phải đi học những lớp chính trị, được dậy về lý thuyết Cộng sản, về sự quang minh của Đảng và Nhà nước, về ưu việt của Xã Hội Chủ Nghĩa ...
Mọi người ngồi nghe mà chẳng mấy ai tin tưởng, lòng còn đang buồn phiền vì mất nước, đầy lo âu cho tương lai tăm tối, bất ổn ... đang đau khổ vì không đi thoát được ! Chỉ mấy tháng sau khi họ thanh lọc, Hà có chồng và cha đi học tập cải tạo nên không được cho dậy nữa, sợ ảnh hưởng xấu tới đám sinh viên .

Đang hoang mang mất việc thì vài tháng sau Hà tìm ra một người quen của gia đình chồng là bác sĩ tập kết mới trở về, anh Tân, trưởng phòng nhân viên sở Y tế trong Nam. Thấy người quen biết, anh Tân đề nghị Hà đi trong phái đoàn tiếp quản các bệnh viện. Trong khi đến nhà gặp vợ chồng anh, ở đây Hà quen thêm Hạnh. Hạnh kể cũng đã đóng cửa dược phòng và đang cạy cục xin đi làm công nhân viên cho yên thân.
Hạnh với đôi mắt hạt nhãn đen nháy, rất tinh nhanh, chỉ Hà cách đút lót cho có hiệu quả, lúc đầu chỉ nhẹ nhàng một cân giò, miếng chả quế, sau đó mua vịt quay, heo quay, bánh trái.... rồi từ từ biếu đồng hồ, dây chuyền, bây giờ thì biếu cả máy giặt, TV, xe gắn máy... họ sẽ nhận tuốt !
Hà mỉm cười ngẫm nghĩ, mình chưa kịp biếu xén đã “bị” hay “được” lôi đi làm. Thế là bỗng chốc Hà trở thành công nhân viên bệnh viện, cuộc đời thật oái oăm, chồng thì đang đi tù cải tạo, vợ lại thuộc phái đoàn đi tiếp quản bệnh viện.

Bệnh viện Hà và Hạnh theo phái đoàn tới tiếp quản là bệnh viện Phước An, thành lập từ một bang của người Tầu... Nhà thương Phước An trước kia là nhà thương tư của bang Phước Kiến, tổ chức rất quy củ chặt chẽ, giầu nghèo tuỳ khả năng đều được vào chữa bệnh. Họ như anh em một nhà, các cô y tá rất ngoan và tận tâm, bác sĩ các khoa phòng, dược sĩ, nha sĩ thường là người Việt Nam, được họ rất quý trọng.

Sau 75, chính quyền mới tiếp quản các bệnh viện. Vì không đủ người nên chỉ có một số nhỏ đi tiếp quản là từ miền Bắc hay tập kết từ miền Nam, họ giữ những chức vụ lãnh đạo còn đa số là thành phần chuyên môn : các Y Nha Dược sĩ thường tốt nghiệp từ các Đại học ở Saigon. Sự tiếp quản nặng về hành chánh .
Về chuyên môn, bác sĩ Giám Đốc cũ vẫn tiếp tục điều hành bệnh viện. Bệnh viện nay chuyển từ tư sang công, miễn phí, do nhà nước cai quản, các nhân viên trở thành công nhân viên, ăn lương nhà nước.

Giám đốc bệnh viện Phước An là một bác sĩ Việt Nam làm việc ở đây đã nhiều năm, được bang Tầu Phước Kiến quý trọng lắm. Họ xây cho ông một villa thật đẹp ngay góc trước khuôn viên bệnh viện để đêm hôm có chuyện cấp cứu mời ông cho tiện. Các khoa phòng thường có bác sĩ trực đêm nên cần lắm họ mới mời ông sang.

Trong buổi lễ tiếp quản, ban giám đốc cũ và hội đồng y khoa gồm các y nha dược sĩ, các y tá trưởng của bệnh viện có mặt đầy đủ, chấp nhận sự điều hành mới của Ban tiếp quản tại hội trường chính của bệnh viện. Thủ tục giản dị, tuy diễn ra trong im lặng nhưng mọi người đều cảm nhận cái không khí căng thẳng chịu đựng của những người thua cuộc.

Xong thủ tục bàn giao, Hà và Hạnh theo bà trưởng khoa về khoa Dược. Đó là một khu khá rộng chiếm nguyên ba tầng của góc trái bệnh viện. Tầng dưới là dược phòng rất đông khách sẽ do Hạnh trông nom . Tầng hai là kho Dược, chuyên giao thuốc cho các khoa phòng vẫn do bà Dược sĩ Trưởng khoa điều khiển. Lầu ba là khu pha chế thuốc sẽ do Hà giữ trách nhiệm. Hà nhìn thấy rõ sự e dè của mọi người dành cho ban tiếp quản mới.
Thấy Hà đã làm việc ở trường Dược trong khu bào chế nên ông giám đốc rất vui mừng. Ông ngỏ ý muốn nhờ Hà giúp giải quyết những khó khăn của phòng thuốc Nam và giúp sản xuất dịch truyền đang rất cần trong bệnh viện.
Sự thiếu thốn trầm trọng dịch truyền ảnh hưởng lớn lao đến việc chữa trị cũng như đến tính mạng nhiều bệnh nhân. Ông cho biết sau ngày "giải phóng", bệnh viện có thêm khu thuốc Nam để đáp ứng nhu cầu thiếu thuốc Tây.
Ông Giám đốc và Hà đi dọc theo dẫy thuốc Nam để trên kệ, Hà thấy hầu như chai thuốc nào cũng có lớp màng trắng phía trên, vài chai phía trong đã lên mốc xanh nâu... Ông giới thiệu Hà với một ông sư trẻ đang cai quản khu thuốc Nam rồi đăm chiêu:
- Khoa thuốc Nam đang gặp rất nhiều khó khăn vì thuốc hốt theo thang cổ truyền, khó nấu chính xác, các loại thuốc nước chỉ vài ngày sau là bị đầy mốc. Chúng tôi mong dược sĩ sẽ giúp giải quyết những khó khăn đó.

Hà dè dặt:
- Thưa bác sĩ, tôi sẽ xem lại quy trình bào chế thuốc Nam, có thể cách điều chế vài chỗ chưa đúng tiêu chuẩn nên dễ mốc. Tôi sẽ nghiên cứu lại, tìm cách thay đổi nếu cần, để thuốc không bị mốc.

Hà bỗng nghe giọng gay gắt của ông sư trẻ :

- Không ai được thay đổi công thức thuốc Nam của tôi, đó là toa trị bệnh gia truyền từ lâu đời !

Hà ngạc nhiên chưa kịp phản ứng, ông Giám Đốc đã vỗ vai nhà sư và nhỏ nhẹ:
- Thầy ơi, không ai đụng gì tới công thức của Thầy đâu. Cô Dược sĩ chỉ giúp Thầy cho thuốc để lâu khỏi bị mốc thôi.

Ông sư trẻ giọng còn hằn học:
- Làm gì thì làm chứ không được thêm bớt toa thuốc của tôi .

Chưa bắt tay vào việc nhưng Hà thấy trước nỗi khó khăn khi phải làm việc với ông thầy trẻ khoác áo vàng còn đầy sân hận của thế nhân nên ráng giữ im lặng.
Ra khỏi khu thuốc Nam ông Giám Đốc nhỏ nhẹ bảo Hà:

- Ông Thầy này hơi khó tánh, xin dược sĩ đừng để tâm. Ông ta từ một trại mồ côi, phải theo tu hành từ khi mới vào, không được đi học. Ông ta học thuốc Nam theo lối cổ, ở Sở cử xuống giúp chế thêm thuốc Nam cho những bệnh thông thường. Dược sĩ cũng
biết giờ đang thiếu thuốc Tây lắm ... Xin dược sĩ cứ xúc tiến nghiên cứu cho thuốc khỏi bị mốc, có gì đề nghị, xin mời dược sĩ lên thẳng văn phòng tôi nói chuyện. Tôi sẽ tìm cách thuyết phục ông ta.

Hà thấy hai yêu cầu của bác sĩ giám đốc là những trọng trách lớn mà nàng phải đảm đương gấp trong thời gian tới:
- Phần thuốc Nam, về chuyên môn hy vọng giải quyết được: Hà sẽ hướng dẫn nhân viên cách nấu thuốc si rô đúng tiêu chuấn, cách bảo quản thuốc tinh chế tránh mốc... Về chuyên môn hy vọng giải quyết được, nhưng khó khăn là phải đương đầu với ông sư trẻ có vẻ sẵn sàng chống đối quyết liệt mọi thay đổi .
- Phần pha chế dịch truyền, về công thức không rắc rối nhưng trách nhiệm rất nặng nề vì thuốc truyền thẳng vào tĩnh mạch bệnh nhân, mà điều kiện vô trùng giữa một bệnh viện hầu như không thể có. Hà sẽ phải nghiên cứu sách vở rất nhiều vì hồi còn học ở trường Dược, cũng chỉ được học lý thuyết mà chưa bao giờ thực hành. Thuốc dịch truyền thời đó luôn do những viện bào chế lớn đảm nhiệm hay nhập cảng từ ngoại quốc. Nay "cách mạng" vào, đâu còn khả năng nhập cảng dễ dàng thuốc Tây và các nguyên liệu chế biến, nơi nào cũng hô hào tự túc, tự khắc phục khó khăn ...
Theo ý muốn tha thiết của bác sĩ Giám đốc và nhu cầu rất cấp bách của bệnh viện, chắc chắn Hà phải thực hiện việc pha chế dịch truyền.
Lòng nàng dâng đầy nỗi lo âu nên Hà cố tìm hiểu, tra cứu kỹ những điều kiện cho phòng vô trùng, những máy móc, dụng cụ cần thiết và đưa danh sách những thứ cần mua cho bác sĩ Giám Đốc. Trong khi đợi thành lập phòng dịch truyền, bệnh viện nhận thêm bốn dược sĩ mới: Nga và Hà thay phiên nhau tại Dược phòng, Hạnh đổi lên phụ kho thuốc cùng với chị Hương và Lan sẽ phụ pha dịch truyền với Hà. Các dược sĩ tuy làm chung bệnh viện nhưng mỗi người một tâm sự, một hoàn cảnh riêng, cuộc đời ai cũng bị xáo trộn vì thời thế.
Hà rất quý trọng bác sĩ Giám Đốc: bác sĩ Lương Phán là một con người điềm đạm, đạo đức, tài ba xuất sắc về chuyên môn y khoa và rất tận tuỵ với bệnh nhân. Ông hầu như hy sinh hạnh phúc riêng và cuộc đời ông cho bệnh viện: mấy chục năm, nửa đêm hôm sớm, ông không quản ngại bên những bệnh nhân cấp cứu, lúc nào cũng tươi cười niềm nở với bệnh nhân, tận tình giải thích mọi thắc mắc ưu tư. Sau "giải phóng", dù đã qua tuổi về hưu từ lâu và không còn được lãnh lương, ông vẫn ở lại làm việc hăng say, dù có quốc tịch Tây, có thể ra đi sung sướng hưởng đời bất cứ lúc nào. Ông đúng là hình ảnh của một "Lương y như từ mẫu".
Những ngày sau Hà phải tìm cách chuyện trò thân mật với đám nhân viên làm thuốc Nam để biết hết quy trình làm thuốc hầu có thể sửa chữa. Mọi việc rất khó khăn vì ông Thầy trẻ bất hợp tác ra mặt. Ông ta không chào hỏi, không thèm nói chuyện với Hà, còn ngầm ra lệnh cho các nhân viên không được chuyện trò với cô dược sĩ. May bác sĩ giám đốc rất quan tâm đến việc sửa chữa và yêu cầu mọi người giúp Hà tối đa, Hà thấy rõ mọi người rất nể Bác sĩ Giám Đốc, kể cả ông Thầy.

Sau khoảng hai tuần tìm hiểu và làm thử mấy mẻ thuốc Nam không bị mốc, Hà làm báo cáo đề nghị mọi sửa đổi cần thiết lên phòng Giám Đốc. Đang viết báo cáo thì anh Tân, trưởng phòng nhân viên sở Y tế, xuất hiện, hỏi han mọi việc với Hà xong, anh bảo:
- Em viết xong báo cáo đưa riêng cho anh, anh sẽ ký duyệt.
Hà ngần ngừ:
- Thưa Anh, bác sĩ Giám Đốc có dặn em chiều nay đưa báo cáo cho ông ta trước khi thực hiện.
- Em nhớ là anh mới là bác sĩ trưởng tiếp quản, hơn nữa em và Hạnh cùng bác sĩ Tâm, Thành, các em làm việc trực tiếp dưới quyền anh ... Em cứ đưa cho anh rồi anh sẽ lo mọi chuyện.

Thế là báo cáo phải đưa thẳng đến văn phòng tiếp quản. Buổi sáng hôm sau bác sĩ giám đốc đến gặp Hà với một bản báo cáo ký duyệt dưới tên bác sĩ Tân.
Ông nhìn Hà, nhẹ nhàng:
- Chiều hôm qua tôi cứ đợi dược sĩ ...
Hà bối rối :
- Thưa bác sĩ, tôi đang sửa soạn đi gặp bác sĩ thì bác sĩ Tân tới ... Bác sĩ Tân muốn tôi đưa báo cáo cho ban Tiếp quản trước ...

Với giọng rất cởi mở, bác sĩ Giám Đốc tươi cười:
- Xin Dược sĩ đừng quan tâm, ai đọc trước và duyệt cũng được, cốt sao cho bệnh nhân có thuốc dùng không bị mốc. Tôi đã đọc kỹ báo cáo của dược sĩ, thật là mừng .....Thế là thuốc Nam từ nay sẽ không còn lo bị mốc. Bây giờ chỉ còn khó khăn là phải làm sao thuyết phục được ông Thày thực hiện những điều Dược sĩ yêu cầu....

Hà vào đến khu thuốc Nam thì được biết chiều qua ông Thầy đã đi lục tỉnh hái thuốc. Thường cách vài tuần, phòng thuốc Nam lại đi hái thuốc trên núi quanh Saigon và vài tháng lại đi xuống lục tỉnh hái những loại thuốc hiếm. Bác sĩ Tân hối thúc Hà làm gấp những mẻ thuốc theo quy trình mới tránh mốc .
Với sự khuyến khích của bác sĩ Giám Đốc và ban Tiếp quản, Hà hướng dẫn nhân viên cách nấu thuốc si rô đúng tiêu chuấn, cách bảo quản thuốc tinh chế tránh mốc ... Mọi việc đang êm xuôi thì ông Thầy về.
Chiều hôm sau Hà bỗng được mời lên văn phòng tiếp quản gấp. Ông Thầy vừa ra lệnh cho nhân viên ngưng làm thuốc theo kiểu mới, cấm không cho bán thuốc kiểu mới dưới Dược phòng và đòi đưa Hà ra Hội đồng Y khoa toàn viện.
Hà biết là các nhân viên thuốc Nam đã báo hết mọi việc với ông Thầy, họ thân nhau lắm, họ coi ông Thầy như một đấng Tối cao. Hôm trước Hà đã nói chuyện với bà Trưởng khoa Dược, bà ta rất tán đồng công thức của Hà, nhưng cũng bảo khi ông Thầy về không biết có gây chuyện gì không.
Bà cho hay ông Thầy là một trẻ mồ côi bị bỏ vào chùa, bị cưỡng bách ăn chay và tụng kinh trong trại mồ côi, là một chú tiểu bất đắc dĩ, ra đời khoác áo vàng, chứ không phải là một vị sư chân tu thấm nhuần Phật pháp, nên tính tình ông ta hẹp hòi, nóng nẩy. Hà cũng sớm nhận ra điều ấy nên dù mọi người xưng con với Thầy, Hà vẫn chỉ xưng tôi.
Ra Hội đồng, Hà bình tĩnh trình bày những khó khăn về bảo quản đã lâu không giải quyết được của khu thuốc Nam, yêu cầu sửa đổi của bác sĩ Giám Đốc, những thuốc mốc tràn lan trong khu bào chế và ở Dược phòng, sự nguy hiếm cũng như sự than phiền của bệnh nhân ... Sau đó Hà đem những quyển sách khổ lớn bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ra dẫn chứng cho việc bào chế mới, tất cả những thay đổi của Hà đều không gây hại cho bệnh nhân và liều lượng thuốc bảo quản rất ít, chỉ trong tiêu chuẩn quốc tế cho phép.
Ông Thầy to tiếng nói ông chỉ muốn làm đúng như toa cổ truyền. Bác sĩ Giám Đốc rất khéo léo, ông nói sự thay đổi sẽ không ảnh hưởng đến việc chữa trị của Thầy và với quy trình mới, thuốc có thể để lâu được, nay Thầy có thể làm nhiều mẻ lớn, quảng bá ra quần chúng và thu lợi nhuận giúp bệnh viện. Ông hứa tôn trọng tuyệt đối toa thuốc cổ truyền.
Ông Thầy đưa Hà ra Hội đồng Y Khoa toàn viện không có kết quả như ý, ông ta ra về nhìn Hà hậm hực , nhưng từ đó dưới áp lực của ban Giám Đốc, những mẻ thuốc Nam được chế theo lối mới . Mỗi mẻ được làm rất nhiều, cất trong kho, dư dùng cho các khoa phòng và bán ra ngoài, để mấy tháng cũng không bị mốc nên bác sĩ Giám đốc rất vừa ý.

Giải quyết xong vụ thuốc mốc, Hà tập trung vào việc sửa soạn làm dịch truyền . Sau hai tháng chờ đợi, bác sĩ Giám Đốc cho hay máy móc và thuốc men cho phòng Dịch truyền đã về tới. Bác sĩ Giám Đốc thật bận rộn với các bệnh nhân và các Khoa phòng nhưng ngày nào ông cũng lên đôn đốc thợ xây cất phòng Dịch truyền cho đúng tiêu chuẩn.
Phòng bào chế xây cất xong, các máy móc được điều hành tốt đẹp, những chai dịch truyền được khử trùng trong máy tiệt trùng đúng tiêu chuẩn . Những mẻ thuốc được pha bằng máy, Hà cân hoá chất bằng cân tiểu ly rất kỹ, thuốc pha xong được đóng nắp bằng máy và đem vào máy tiệt trùng lại một lần nữa.
Những mẻ dịch truyền đầu tiên được đem đi thử nghiệm chuyên môn bên ngoài xem có đạt đúng lượng thuốc và đạt tiêu chuẩn vô trùng. May mà mấy lần đều đạt được kết quả tốt đẹp nên bắt đầu qua giai đoạn thử nghiệm vào người.
Bác sĩ Giám Đốc làm một buổi lễ long trọng giới thiệu dịch truyền sản xuất tại bệnh viện. Trước mặt toàn viện, các bác sĩ, y tá, bệnh nhân ... thuốc được chích cho một nhân viên xung phong của phòng Dịch truyền. Ngọc thật hồi hộp theo dõi thuốc dịch truyền mình pha, lần đầu tiên được truyền vào tĩnh mạch con người. Anh nhân viên thật can đảm và bình tĩnh, danh sách xung phong xin truyền dịch khá đông. Người thứ hai là bác sĩ Giám Đốc rồi đến y tá ... Hà cố lờ đi trước những đôi mắt nhìn nàng, Hà không dám xung phong, nàng vừa sợ chích, vừa nghĩ đến các con, mình có mệnh hệ gì thì ai nuôi chúng, bố chúng thì đi "cải tạo" mãi chưa về.

Thật là một phép lạ, mọi chuyện đều êm xuôi, không ai bị phản ứng hay bị shock. Hà biết dây truyền sản xuất thuốc tại bệnh viện không thể nào đạt độ vô trùng như ở các viện bào chế lớn, có lẽ con người có nhiều khả năng dung nạp và khắc phục thật hay.
Sau khi phòng thử nghiệm cho kết quả tốt đẹp và chích thử an toàn, thuốc được sản xuất hàng loạt rồi cất vào kho, cung cấp rộng rãi cho các khoa phòng những loại dịch truyền cần thiết, khu giải phầu là nơi xử dụng dịch truyền nhiều nhất .
Trước đó bác sĩ Giám Đốc yêu cầu Hà viết tỉ mỉ về quy trình sản xuất Dịch truyền. Hà viết gần xong thì anh Tân lại yêu cầu để anh ký duyệt. Hà thật bối rối, anh Tân không giúp được bao nhiêu, chẳng sốt sắng trong quá trình xây cất và sản xuất, trong khi bác sĩ Giám Đốc tận tuỵ ngày đêm, ông lo lắng cho thực hiện mọi việc thật chu đáo đến ngày thành công. Chữ ký duyệt là một điều danh dự, Hà muốn dành cho bác sĩ Giám Đốc, ông thật xứng đáng. Nay bác sĩ Tân lấy quyền tiếp quản bệnh viện, dành lấy chỗ danh dự ấy, Hà thấy thật vô lý. Nàng biết bác sĩ Giám Đốc chẳng quan tâm gì đến việc ai ký duyệt, ông chỉ quan tâm đến nhu cầu cấp bách về dịch truyền cho bệnh nhân, nay bệnh viện đã có thể sản xuất dịch truyền an toàn, dư thừa cho các Khoa phòng, đó là hạnh phúc, phần thưởng tinh thần lớn nhất cho ông. Nhìn tên bác sĩ Tân ở ngay trang đầu và chữ ký của Tân thật lớn ở trang cuối, cạnh chữ ký của mình trong tập quy trình, Hà thật áy náy, từ ngày đó Hà tránh cái nhìn vồn vã của bác sĩ Giám Đốc, nàng thấy mình như một kẻ phản bội xấu xa mà không sao cất được lời giải thích.

Chiều thứ sáu, mọi người đang hoan hỉ xếp dọn hồ sơ để ra về, nghĩ tới hai ngày nghỉ cuối tuần sẽ vui chơi cùng gia đình thì bỗng loa bệnh viện yêu cầu mọi người cuối tuần đến làm chiến dịch "Tổng vệ sinh cuối tuần". Mọi người ngao ngán nhìn nhau thở dài.

Lại cái bệnh báo cáo láo lấy điểm… thiệt là mệt ! Ăn thì không đủ, toàn khoai mì với bo bo, lương chưa dính túi, làm cực khổ suốt tuần vậy mà còn bắt làm thêm cuối tuần không lương phụ trội. Ai cũng ngán ngẩm, đã không được nghỉ ngơi, không được vui chơi cuối tuần với gia đình mà còn phải lao động cực nhọc .
- Sao nghe nói mấy ổng cũng là bác sĩ mà không ra chữa bệnh ?
- Chữa trị gì nổi, một cô y tá ra vẻ thành thạo: mấy ông " bác sĩ cách mạng" này nhiều ông chưa xong tiểu học. Nhờ có công lao ngoài chiến trường nên được gửi đi học y tá cấp tốc vài tuần, sau học thêm khoá y sĩ vài tháng, rồi có công với cách mạng được thăng lên bác sĩ, có chức vụ vậy thôi chứ có khả năng gì đâu mà chữa bệnh cho ai.
- Bớt cái miệng đi nghe, có người báo cáo là vô tù đó.

Hà nghe những lời than van đã nhiều. Ai cũng kêu ca từ ngày "giải phóng" vừa cực khổ vừa đói. Mà cũng chỉ là những lời than với người quen, còn bề ngoài đâu dám ai cũng tâm sự, tai vách mạch rừng ... đâu biết ai bạn, ai thù. Rồi thứ bẩy và chủ nhật mọi người vẫn phải đi làm. Người phải trực gác thì lo cho bệnh nhân, số còn lại phải tham gia công tác tống dọn vệ sinh toàn viện. Các bác sĩ, dược sĩ bị chia làm trưởng toán với mấy chục nhân viên lùng sục vào tận khu tâm thần, ho lao, nhiễm trùng ... ở cuối nhà thương để lau dọn. Sau khi qua lại lăng xăng chút buổi sáng, bác sĩ tiếp quản không biết du hí nơi đâu biến mất cả ngày, tới chiều tàn mới tạt về kiểm tra: ông ta quẹt tay vào các ngách cửa, trần nhà xem có còn sót bụi, trời tối hẳn ổng mới cho mọi người ra về, hẹn sáng sớm chủ nhật quay lại làm nốt.
Hà đi qua khu ngoại khoa, thấy mấy cô y tá phòng mổ đang than :
- Bây giờ thiếu chỉ mổ, thiệt kẹt quá .
- Chẳng bù ngày xưa, chỉ đủ loại đầy kho. Bây giờ bệnh nhân vào mổ là bắt người nhà đi mua sẵn thuốc chích cấp cứu, ra chợ trời lùng các loại chỉ mổ, thuốc giảm đau, mua có đủ thứ mới được mổ.
- Gặp người nghèo lấy tiền đâu ra mà mua ?
- Thì chịu chết chứ không có chỉ khâu, không có thuốc cũng đâu có mổ được. Người giầu còn có tiền đi lùng thuốc ngoại chợ đen còn người nghèo là chịu chết, mạng người rẻ như bèo!
Thấm thoát Ngọc làm ở bệnh viện Phước An đã hơn một năm. Công việc đã chạy đều. Dịch truyền cũng sản xuất hàng ngày và cung ứng rộng rãi cho phòng mổ, nội khoa, khu dưỡng lão... Thuốc Nam đã hết mốc và sản xuất hàng loạt, vừa kịp cung ứng thuốc cho những bệnh thông thường cảm, ho, đau bụng... với nhu cầu khá cao vì thuốc tây đang khan hiếm.
Thuốc Nam thì ông Thầy vẫn cai quản nhân viên nhưng Ban Giám Đốc yêu cầu Ngọc tới kiểm tra khu pha chế hàng ngày, theo dõi quy trình sản xuất và ký giấy xuất kho. Ông Thầy thường tránh mặt khi Ngọc tới, ông có phòng riêng trong khu thuốc Nam. Ông cũng ấm ức vì không được ký giấy tờ nhưng đâu biết mỗi lần ký tên là Ngọc lo sợ vì không biết đệ tử của Thầy có thể hái thuốc nhầm không. Một lần mới tới Ngọc có đi theo hái thuốc trên núi, đi chơi leo trèo rất vui nhưng ông Thầy hướng dẫn mặt lá cây xong là các nhân viên túa ra hái thuốc trong đủ loại cây cỏ mọc tùm lum trong rừng, sự nhầm lẫn thật dễ dàng, cũng may chưa xẩy ra vụ ngộ độc hay tai nạn gì.
Một hôm bỗng có tin đồn ông Thầy sắp lấy vợ, Hà ngạc nhiên thấy ông Thầy bắt đầu để tóc dài rồi vắng mặt cả tháng . Khi ông trở lại, lớp áo vàng đã được trút bỏ, ông đã cưới cô Tám, một nhân viên trong phòng thuốc nam, ông đã nghe tiếng gọi của tình yêu và quyết định rời bỏ đời sống tu hành bất đắc dĩ, ra sống đời thế nhân !
Các bác sĩ trong bệnh viện còn trêu chọc Thầy hoài ...

Các nhân viên sau đã thân thiện với các bác sĩ, dược sĩ tiếp quản . Họ nhận ra ngoài hai ông bác sĩ trưởng và phó ban, tập kết từ Bắc vào, còn lại mấy bác sĩ, dược sĩ toàn là "phe ta", còn đang nuôi chồng cải tạo hay đi tù cải tạo mới về !

Lương chỉ đủ sống vài ngày nhưng không ai dám chính thức kêu ca, mọi người cứ lặng lẽ cầm cự. Nhân viên cũng thỉnh thoảng được lãnh thêm "nhu yếu phẩm", khi thì một khúc vải xấu, lúc thì miếng thịt ôi. Đời sống đã khó khăn, tới ngày chia thịt, mỗi người được chia một miếng, nhỏ hơn nắm tay, đã khô đen, vì không có bảo quản đông lạnh. Không ai dám chê phần không lãnh về, vì sợ bị quy vào loại tư sản.
Các bác sĩ nhường cho y tá chọn mỡ, vì mỡ có thể xào rau ăn nhiều ngày mà vẫn còn tóp mỡ, trong khi thịt nạc kho chỉ một bữa là xong.
Bác sĩ Tai Mũi Họng mỗi khi đem thịt về lại treo tòng teng vào một sợi dây dài gần chấm đất, vừa đi vừa xoay miếng thịt vòng vòng quanh người như làm xiếc trêu chọc nhưng miệng luôn tươi cười : hôm nay có quà này bà xã mừng hết lớn đây.
Sau 75, số bệnh nhân đau bao tử tăng vọt. Một bác sĩ giải thích cặn kẽ cho các sinh viên đến thực tập: sự liên hệ giữa đau bao tử và những lo âu vì đổi đời, tương lai bấp bênh, buồn nản...
Tai vách mạch rừng, chẳng bao lâu sau bác sĩ đó nhận được giấy cho nghỉ việc.



Last edited by HSV on Tue Sep 24, 2013 9:42 am; edited 3 times in total
Back to top
View user's profile Send private message
Phung Mai



Joined: 15 Aug 2005
Posts: 3481
Location: Houston

PostPosted: Tue Sep 24, 2013 2:56 am    Post subject: Reply with quote

Bận rộn và căng thẳng vật lộn với cuộc sống mới, thời gian vùn vụt trôi nhanh. Sắp đến mùa Giáng Sinh, nhớ những ngày mới đến, mùa hè nóng như thiêu đốt, thế mà vào đông, có hôm nhiệt độ xuống thấp đến 40 độ Fahrenheit tức gần 5 độ C. Họ bảo đến tháng giêng hay tháng hai còn lạnh cóng, nhiệt độ thấp đến đông đá. Houston hiếm thấy tuyết nhưng sẽ có những ngày đông giá rét, vệ đường nước mưa đóng băng, dễ trượt chân ngã.

Tháng 12 phố xá náo nhiệt, các cửa hàng trăng đèn, kết hoa sẵn sàng đón mừng Giáng Sinh và năm mới. Một buổi tối cuối tuần, không phải đi học, hòa mình vào đám đông của khách địa phương sắm quà Noel, vợ chồng Tâm Trang đắt hai con dạo phố. Trời đông se lạnh, dạo quanh những đường phố lung linh ánh đèn đủ màu sắc. Mỗi tiệm đều trang điểm bằng cây thông Giáng Sinh xanh ngắt, mùi thông thơm nhẹ, những quả cầu nho nhỏ xanh đỏ tím vàng lủng lẳng trên thân cây, nổi bật cùng những sợi dây kim tuyến lấp lánh.
Cu Bi và Bé Na dán mắt vào các tủ kính , tay chỉ trỏ vào các gói quà buộc dây nơ đẹp mắt.

Tình cờ ngang qua tiệm bán tạp hóa và thuốc tây Eckerd Drugs, thấy dán ngoài cửa kính ra vào mấy chữ "Now Hiring". Bước sâu vào phía trong là khu vực pharmacy, quầy thuốc tây, những kệ trắng sắp thuốc ngay ngắn, nhìn cô bán thuốc mặc áo blouse trắng, Trang đứng thần người, ngơ ngẩn, ước gì mình có việc làm này nhỉ.
Thấy hai con xin mua vài thanh kẹo chocolate, mua xong Tâm dẫn con vào nhắc Trang về.

- Có gì thế em, sao thừ người ra thế ?

- Anh có thấy họ đề bảng đang cần người giúp việc dán ngoài cửa không ?

- Đâu, anh không để ý.

Trang kéo tay Tâm ra chỉ bảng Now Hiring , rồi cả hai vào xin nói chuyện với người phụ trách việc tuyển người. Họ cho biết cần người gấp bán hàng trong dịp Noel, đưa Trang tờ đơn và hẹn ngày mai trở lại gặp bà Manager, nhớ điền đơn sẵn sàng.
Đêm hôm nó, nàng nằm mơ thấy cô bán thuốc với chiếc áo blouse trắng.

Hôm sau, xin nghỉ một ngày, Trang theo Tâm lên xe buýt đi xin việc ở tiệm Eckerd Drugs.
Bà manager người phúc hậu, tròn tròn, tầm thước, đọc re'sume của Trang kỹ lưỡng.

- Cô có kinh nghiệm về thuốc tây, nhưng hiện giờ chúng tôi chỉ cần một người phía quầy bên ngoài bán hàng trong mùa Christmas này thôi. Chúng tôi cần gấp cô có thể làm ngay được không?

Mừng thầm trong bụng, Trang nghĩ, cố len được chân vào hệ thống Eckerd Drugs đã, tìm cơ hội sẽ tính sau và nhanh chóng gật đầu.

- Dạ được, cho tôi xin một tuần được không ? Tôi sẽ xin nghỉ chỗ đang làm nhưng cho họ mấy hôm tìm người mới.

- Thôi được, hẹn gặp cô thứ hai tuần sau.

Chỗ làm mới tuy xa nhà nhưng cũng tiện đường đi làm cùng với Tâm. Theo chồng đi xe buýt buổi sáng, đến gần chỗ làm, Trang xuống trước, Tâm tiếp tục đi xa hơn nữa mới đến sở.
Tuy chỉ phụ bán hàng phía quầy tạp hóa, chưa vào được quầy thuốc tây, dù sao cũng là một bước tiến nho nhỏ, Trang vui lắm.
Chị Trâm vẫn giữ việc cũ, mừng cho em bớt nhọc nhằn, rồi nghĩ đến thân mình, cũng sẽ cố gắng tìm cách đổi nghề.

Giáng Sinh năm đó, Noel đầu tiên của đại gia đình Trang xa quê hương, tuy nghèo nhưng đầy ắp niềm vui và ấm cúng.
Nàng mơ màng, nhớ lại những lần cùng nhóm bạn thân Trưng Vương và sau này với Tâm cùng chen chân đi xem lễ nửa đêm ở nhà thờ Đức Bà trên đường Thống Nhất. Dư âm những ngày ấy vẫn lẩn quẩn trong tâm trí nhưng bạn bè nay lưu lạc phương nào.
Noel bên này có nhiều hàng hoá đẹp hơn, quang cảnh trang hoàng rực rỡ hơn, không khí se lạnh, cái lạnh mà ngày xưa dân Saigon ước ao khi mùa Giáng Sinh đến. Bên này không thiếu thứ gì, nhưng sao vẫn thấy buồn, thấy nhớ.

Qua Noel là sắp đến Tết ta. Những ngày Tết lại càng buồn hơn. Mọi người vẫn phải đi làm, trẻ con vẫn đi học nhưng các cụ không quên lo một ban thờ nho nhỏ, trên cúng Phật, dưới là ban thờ tổ tiên. Tối 29 tết, sau khi đi làm về, chị Trâm đưa mẹ đi sắm ít đồ đạc cúng tết. Chợ tàu, ngoài cửa treo mấy lồng đèn đỏ, bên trong chỉ thấy bày bán những hộp kẹo bánh Tàu, bánh biscuit hiệu Lu, khay đựng bao lì xì và những cặp nến đỏ. Toàn màu đỏ, tìm đâu ra những chiếc bánh chưng xanh vuông vắn, nóng rền, những khay mứt đủ màu, thiếu hoa đào, hoa mai, thiếu cả một bầu trời Tết.

Tối 30, sáng mùng 1 Tết, các con và các cháu vẫn giữ truyền thống chúc tết Bà Nội và Ông Bà ngoại. Ba đứa trẻ thơ ngây, vui sướng cầm mấy bao tiền mừng tuổi, tung tăng chạy khắp nhà.
Lễ xong, thấy Bố ngồi yên lặng vào góc bàn, nhấp ngụm trà, mắt mông lung nhìn qua cửa sổ. Trang biết Bố đang trầm ngâm nhớ về quê hương xa vời, mong mỏi một ngày về.

Back to top
View user's profile Send private message
MYNGA



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1614

PostPosted: Tue Sep 24, 2013 7:52 am    Post subject: Reply with quote

Ánh nắng chói chang chiếu qua khung cửa sổ nhỏ căn phòng ngủ của hai anh em khiến Hoàng choàng tỉnh giấc. Chiếc giường con bên cạnh trống trơn, không biết Huy đã chạy đi đâu. Tung chiếc mền mỏng đang quấn quanh mình, Hoàng nhỏm dậy phóng vội vào Toilette đánh răng rửa mặt, tính toán thật nhanh những gì phải làm hôm nay sau một tuần làm việc vất vả.

Việc đầu tiên là phải đem mớ quần áo dơ của hai anh em Hoàng đến nhà hai bác Thuần để giặt nhờ. Từ ngày sang Mỹ đến nay, được một nhà thờ tin lành của Mỹ bảo lãnh về tiểu bang Minnesota, thành phố St. Paul, anh em Hoàng được nhà thờ thuê giùm căn appartement gồm 1 phòng ngủ, 1 phòng khách nhỏ, cái bếp và toilette. Nhà nhỏ không có chỗ để máy giặt, may mà làm quen được với gia đình hai bác Thuần do nhà thờ giới thiệu, nên tuần nào anh em Hoàng cũng ôm gói quần áo đi xe Bus đến nhà hai bác giặt nhờ. Một công đôi ba việc, vừa được gặp đồng hương, vừa được hưởng ké không khí gia đìnhcủa bác, nhất là vừa được ….ngắm cô con gái út của bác, xinh đẹp nhí nhảnh như bé Quỳnh, cô em gái út của Hoàng và Huy.

Gia đình bác Thuần đông con, phần đông lại là con trai, cùng cỡ tuổi với anh em Hoàng, lại hợp tính hợp nết với nhau nên ngoài tình đồng hương nơi xứ lạ quê người, hai anh em Hoàng cũng được hai bác xem như con cái thân mật trong nhà. Hai bác Thuần lại là người Huế, từ giọng nói cho đến cách đối xử, nhất là khi được chuyện trò với bác gái, khiến hai anh em Hoàng càng nhớ đến cha mẹ ở nhà vô cùng......

…. Ngàỳ 29/4 trên đường đi ra bến tàu, đường xá đông đúc, hỗn loạn, vì luống cuống mất bình tĩnh muốn rượt cho kịp xe của anh Tùng chị Vi chở cha mẹ và hai em, xe Honda của Hoàng tông mạnh vào chiếc xích lô máy đang lao từ bên trái đến. Hai anh em Hoàng ngã lăn kềnh ra đường, mình mẩy cả hai tuy không bị trầy sướt gì nhiều nhưng tay lái của chiếc xe quẹo hẳn sang một bên, không cách gì chạy tiếp được. Sau một hồi cãi nhau loạn xạ với bác tài xế, cả hai bên đều mất bình tĩnh, biết là không đi tới đâu, Hoàng đành quyết định bỏ xe đại bên lề, kéo em Huy ….chạy bộ ra bến tàu cho kịp.

Ra đến điểm hẹn, không thấy bà con tụ tập đông đảo trước cổng hải quân công xưởng, bóng dáng cha mẹ cũng như gia đình anh chị Tùng Vi cũng không thấy tăm hơi đâu. Biết là đã quá trễ, Hoàng hoảng hốt kéo Huy chạy bộ về hướng nhà Bè, nơi còn nhiều chiếc tàu đang đậu ở bến. Rồi như định mệnh run rủi, trong một lúc tình cờ nhất, khi không ai để ý, Hoàng kéo Huy lên được một chiếc tàu sắp rời bến.

Lên đến nơi, hai anh em kéo nhau về cuối tàu, ngồi lẩn trong đám hành khách xa lạ không một ai quen biết. Lúc đó Hoàng chỉ còn tâm niệm trong đầu một điều duy nhất “không thể để lạc em Huy, trước khi tìm lại được cha mẹ”. Mặc dầu biết là vô hy vọng, nhưng Hoàng cũng tự an ủi “biết đâu trời thương, gia đình Hoàng cũng có mặt trên chiếc tàu này”. Đến lúc đó, Hoàng vẫn không biết chiếc tàu mang tên gì, chỉ biết là tàu chở rất đông người.

Gần sáu giờ chiều thì tàu nhổ neo. Khi ra đến sông Sài Gòn, từng đoàn tàu Hải Quân Việt Nam đang nối đuôi theo nhau đi thành hàng dài. Chiếc tàu mang tên “Trường Xuân” của anh em Hoàng cũng cà rịch cà tàng chạy nối đuôi theo sau. Đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì bỗng dưng có một chiếc tàu nhỏ chạy vun vút rượt theo tàu của Hoàng. Trên tàu ai cũng lo sợ, hoang mang không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra. Khi chiếc tàu nhỏ chạy đến ngang hông tàu, lúc đó Hoàng mới hay tự sự là ba người lính Hải Quân muốn xin được đi theo tàu. Ba anh lính hải quân này đã trở thành những người lái chính của tàu “Trường Xuân”.

Trời về chiều, mặt trời lúc này đã xuống rất thấp, bên bờ sông có ánh lửa bùng lóe lên. Mọi người nhốn nháo, không hiểu chuyện gì thì có người nói là kho đạn ở thành Tuy Hạ đang nổ. Cảnh tượng lúc ấy thật rùng rợn, ánh lửa tóe sáng trong đêm tối, cháy phừng phừng như đe doạ tất cả những gì và những ai nằm trong khu vực đó. Đêm xuống, trên sông tự nhiên tối xầm lại, tất cả đèn đuốc của mọi con thuyền đều tắt hết, mọi người xầm xì nói nhỏ với nhau là phải tắt đèn để Việt Cộng không thấy mà pháo kích. Hoàng cứ có cảm tưởng những chiếc thuyền là những bóng ma đang đi chậm chậm trên sông. Đêm đó không biết ai có nhắm mắt được không, mọi người hồi hộp chờ đợi trông mong cho mau đến sáng.

Hoàng đã thức nguyên đêm hôm đó, đứng vịn cả đêm một thanh sắt bên hông tàu, canh cho Huy ngủ. Trong màn đêm đen tối, một tiếng động mạnh va chạm vào thành tàu, đầu Hoàng đập vào thanh sắt đau điếng nhưng Hoàng cắn răng không dám lên tiếng sợ có tiếng động.

Sáng sớm ngày 30-04 tàu ra tới biển đông. Bầu trời âm u, ảm đạm, sóng gió nổi lên, mưa rơi lả tả. Ông Trời như đang khóc cho cuộc đổi đời của cả nước, của anh em Hoàng. Tin ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và yêu cầu tất cả lính tráng bỏ súng ống xuống, vài người trên tàu đã tức tưởi chửi thề. Trời vẫn tiếp tục mưa tầm tã. Khi đệ thất hạm đội ló dạng ở cuối chân trời, thật bất ngờ cho tất cả mọi người, không hiểu sao chiếc tàu vẫn không chịu rẽ sóng tiến đến hạm đội Mỹ như mọi người chờ đợi mà cứ điềm nhiên chạy thẳng. Thất vọng nhưng không làm gì được, mọi người đành quay đầu nhìn lại những chiến hạm của Mỹ càng lúc càng xa dần ở cuối chân trời.

Qua đến ngày thứ hai, mọi người trên tàu bắt đầu to tiếng cãi vã vì không được nấu cơm hay đồ ăn. Chủ tàu có riêng một nồi cơm nhưng lại không muốn chia dùng với mọi người. Sau một hồi tranh luận, chủ tàu đồng ý cho mọi người dùng nồi nấu cơm theo thứ tự giờ giấc đã chỉ định rút thăm. Mọi chuyện tranh chấp gay cấn chỉ vì nồi nấu cơm, cuối cùng cũng được dàn xếp một cách ổn thỏa. Anh em Hoàng ban ngày thì đi lui đi tới nhìn mây nhìn nước, không ai nói gì nhiều với ai, ban đêm thì chui xuống hầm tàu tìm chỗ ngủ qua đêm. Đi được vài ngày thì chiếc Trường Xuân bị trục trặc, một anh lính Hải Quân phải nhảy xuống biển để kiểm soát xem xét coi bánh lái bị hư hại gì, còn hai anh Hải quân khác thì đứng lăm lăm cầm súng canh chừng, vì sợ có cá mập đến tấn công. Sau khi sửa chửa xong xuôi, tàu lại chạy tiếp. Một phen hú hồn thoát nạn.

Qua đến ngày thứ tư hay thứ năm của cuộc hành trình, một chiếc máy bay bỗng dưng xuất hiện trên bầu trời. Chiếc máy bay lạng xuống thật gần, mọi người trên tàu la hét nhảy cởn lên, ai cũng múa tay múa chân mừng rỡ. Hoàng có thể thấy được rõ ràng người phi công đang thò đầu ra cửa sổ máy bay nhìn xuống tàu. Những ngày lênh đênh trên biển đây là lần đầu tiên Hoàng mới thấy bóng dáng của một người khác. Chiếc máy bay lạng lên lạng xuống hai ba lần trên đầu chiếc tàu của Hoàng rồi bay đi mất hút. Nét thất vọng hằn rõ trên nét mặt của mỗi người. Một người nào đó lên tiếng trấn an mọi người :

- Nó bay quần trên đầu mình như thế chắc là muốn coi tình trạng tàu mình như thế nào rồi sẽ báo cho tàu khác đến cứu mình…..

Hoàng nghe lời giải thích cũng có lý, nhưng cũng không mấy tin tưởng gì cho lắm vào cái hy vọng mong manh này. Trên tàu, người ta treo tấm vải viết chữ SOS.

Ngày hôm sau một chiếc máy bay khác lại xuất hiện. Cũng giống như chiếc hôm qua, nó cũng lạng lên lạng xuống, quần đi quần lại hai ba lần rồi bay đi mất. Phản ứng trên tàu cũng gần giống như ngày hôm qua nhưng lần này có vẻ trầm tỉnh hơn. Không ai nói gì với nhau nhưng chắc lúc đó mọi người đều tự nghĩ trong đầu rằng là chỉ có mình mới cứu được mình, không thể trông mong gì vào ai khác.

Một ngày qua, thêm một đêm nữa vẫn không có gì thay đổi. Qua đến sáng ngày thứ bảy, đang ngồi lơ đãng trên boong tàu thì tự nhiên Hoàng thấy mọi người đứng cả dậy, tay chỉ chỏ vào một chấm đen nhỏ lấm tấm từ xa. Một lúc sau đó thì đã có thể thấy rõ một chiếc tàu đang chạy về hướng tàu của Hoàng. Khi đến gần thì đó là một tàu chiến. Vài người trên tàu nói cho Hoàng biết đó là tàu chiến của Tân Gia Ba. Không hiểu bên kia nói gì, chỉ thấy cờ được kéo lên kéo xuống, rồi sau đó hai chiếc tàu chạy song song, nhưng cách nhau một khoảng cách khá xa. Vài tiếng đồng hồ sau Hoàng trông thấy từ đàng xa hàng chục, hàng trăm chiếc tàu khác đậu lúc nhúc xung quanh bờ biển. Đó là những chiếc tàu Việt Nam chở dân, chở lính, đã chạy từ Việt Nam sang tụ họp ở đây để chờ Tân Gia Ba quyết định vận mạng của mình. Lúc ấy Hoàng đã thầm nghĩ trong đầu, cả nước Việt Nam, cả một quân đội, một trong mười quân đội đông nhất thế giới, bây giờ chỉ còn vỏn vẹn mấy trăm hay mấy chục chiến thuyền đang ăn nhờ, ở đậu, một nước nhỏ bé lân cận. Một sự tủi nhục vô bờ bến.....

Buổi chiều và tối hôm đó, nhìn vô bờ xa xa, những ánh đèn đường trên bờ sáng hẳn lên, Hoàng bỗng thấy thèm được đi bộ trên đất liền. Mười chín năm qua chưa bao giờ Hoàng biết đến cảm giác gò bó như thế này, nhưng mới bó gối trên tàu một tuần lể, bị đi đứng hạn chế trong phạm vi chật hẹp của con tàu, nhìn bãi biển ở xa, Hoàng mới thấy cái tự do bay nhảy đi đứng nó quý báu biết dường nào, lòng Hoàng chỉ còn ước muốn làm sao cho được đi bộ thoả thích và không bị hạn chế. Mấy ngày hôm sau, có tin đồn đãi là tàu của Hoàng sẽ phải tiếp tục đi thẳng qua Guam và chính phủ Tân Gia Ba sẽ cung cấp đầy đủ thực phẩm cho đoạn đường sắp đi.
Ngày thứ ba ở Tân Gia Ba, mọi người được chuyển sang một chiếc tàu lớn hơn tàu Trường Xuân. Gần mười ngày ăn uống cực khổ, coi như không tắm rửa, ăn nằm như con chó dại lại không bị đau ốm, thế rồi đúng ngay vào ngày chuyển tàu, Huy lại bị lên cơn sốt, tay chân uể oải, mặt đỏ ké như mới uống rượu.

Sang tàu mới, hai anh em Hoàng chọn chổ cao nhất trên tàu để làm chổ đóng đô. Tưởng trên cao sẽ không có ai chui lên theo, vậy mà vẫn có một gia đình khác, nào là ông bà, cha mẹ, vợ chồng con cái, cả một „đống“ đi theo. Họ chiếm chỗ đối diện với anh em Hoàng. Cái “miếng đất làm nhà“ của hai anh em Hoàng bề ngang khoảng hơn 1 mét cho hai người. Miếng đất nhỏ bé đó đã che mưa bão, che nắng gió, cho hai anh em Hoàng lênh đênh trên biển gần hai tuần lể, cho đến Guam.

Lương thực cung cấp cho mỗi gia đình là những hộp cá mòi, đủ ăn cho hai tuần lễ. Những ngày đầu được ăn cá với cơm rất là ngon miệng nhưng sau đó chỉ cần nhìn thấy cá là Hoàng no ngang, không muốn ăn nữa. Mùi cá hộp làm Hoàng thấy nghẹn. Ngoài việc cơm nước, anh em Hoàng cũng không biết phải làm gì cho qua ngày, thỉnh thoảng ra đứng trước mũi tàu nhìn trời, nhìn trăng, nhìn biển. May mắn lắm thì nhìn được mấy con cá voi chạy theo tàu. Hai anh em Hoàng không dám nhắc đến gia đình, cha mẹ chị em còn kẹt lại ở nhà, nói ra chỉ sợ làm người kia buồn bã, mất tinh thần. Tương lai vô định cũng không dám nghĩ đến vì không ai có thể tuyên đoán tương lai ngày mai sẽ như thế nào. Ngồi lại ở “miếng đất làm nhà” thì phải nghe gia đình “hàng xóm” to tiếng với nhau. Đã chạy tị nạn mà vợ chồng anh em trong nhà còn ghen tị với nhau. Ông anh thì lấy cô em, còn bà chị thì lại lấy người em trai. Vai vế đổi ngược, kêu nhau loạn xì ngầu. Hoàng nghe họ gây lộn mà nhức cả cái đầu nhưng khi không biết làm gì cho qua ngày thì nghe họ gây lộn cũng vui vui, đỡ chán !

Một đêm ngủ dậy, anh em Hoàng xuống tán gẫu với mấy người lái tàu thì họ cho biết là đêm hôm qua, tất cả các thuỷ thủ đoàn đều phải mang phao vào người. Hỏi lý do thì họ nói là đêm hôm qua tàu đi qua vùng biển có rất nhiều đá ngầm ở Phi Luật Tân. Nghe họ nói mà Hoàng rùng mình sợ hãi, quả là điếc không sợ súng, nhưng may mắn không có chuyện gì xảy ra.

Gần ba tuần lênh đênh trên biển, đêm cuối cùng trước khi đến đảo Guam, không biết ai cho, hai anh em Hoàng mỗi người được uống một tí champagne. Đứng trên boong tàu, nhìn những chấm đèn lúc ẩn lúc hiện, lúc tối lúc sáng, trong đêm tối hôm đó, giống như những bóng ma chao qua chao lại trong sương mù, lòng Hoàng bỗng đâm ra bồi hồi, bồn chồn, nôn nóng, mừng rỡ xen lẫn lo sợ. Tối hôm đó, Hoàng đã trải qua hầu hết tất cả những cảm giác của một con người có thể có, ngồi bó gối nhìn vào sương mù, nhìn biển, căng mắt ra mà nhìn, rồi vì mệt mỏi, chìm vào giấc ngủ hồi nào không hay.........

…Hoàng nhớ lại hôm tàu đến Guam. Mọi người trên tàu rộn rịp cả lên, chờ đợi tàu cặp bến. Thấp thoáng xa xa Hoàng đã có thể thấy bóng dáng người đi đi lại lại trên đường bộ. Nỗi lo âu sợ hãi tiềm tàng trong Hoàng gần ba tuần nay „tàu chìm, mọi người rớt xuống biển….“, giờ như biến đâu mất hết. Chỉ còn lại sự vui mừng là bây giờ mình đã “thoát nạn”. Nhìn mảnh đất của hòn đảo, Hoàng có cảm tưởng như nó thật gần mà cũng thật xa. Trong chốc lát đây Hoàng sẽ được bước chân lên bờ, rời xa lòng biển có hai bộ mặt, một bộ mặt trông rất trầm lặng, êm đềm, rào rạt, còn bộ mặt khác, may mà Hoàng không gặp phải, khi biển nổi trận lôi đình, nổi sóng, dìm con người xuống cõi chết.

Tuy đang suy nghĩ mông lung, nhưng Hoàng cũng cảm thấy là hình như tàu đang đi chậm hẳn lại. Chiếc tàu đang lừ đừ chạy vào bến theo sự hướng dẩn của tàu Mỹ. Lúc này Hoàng đã thấy rõ những người Mỹ đứng trên bờ. Tàu cập bến, những sợi dây được tung ra kéo tàu vô. Tiếng nói ồn ào vang rân cả bến tàu, Hoàng không hiểu họ nói những gì. Mọi người trên tàu lúc này đều đã đứng dậy, ai nấy tay cầm hành lý sẵn sàng, nhưng hoàn toàn không có cảnh ồn ào chen lấn để được đi xuống trước. Hoàng có cảm giác hình như mọi người đều đang xấu hổ, mặc cảm, như những người khách xa lạ không được mời vào nhà mà vẫn cố xông vào nhà người ta. Từng người một, chậm rãi đi qua cầu thang, rồi đặt những bước chân đầu tiên trên mảnh đất của Mỹ quốc.

Anh em Hoàng vì ở trên cao nên xuống bến tàu gần như là cuối cùng. Hoàng vừa đi vừa quay đầu lại nhìn quanh chiếc tàu. Cố gắng thu nhập hình ảnh chiếc tàu vào tâm tưởng, dù sao nó cũng là “cái nhà”, đã che chở, ôm ấp hai anh em Hoàng gần hai tuần lễ nay. Anh em Hoàng đứng xếp hàng chờ vô căn lều dựng trên bờ để làm giấy tờ nhập trại, sau đó hai anh em được „định cư“ trong một cái lều khá lớn chung với vài gia đình khác. Ở đây, mỗi người có được một cái giường xếp của lính. Thiên đàng hạnh phúc là đây. Hoàng và Huy mỗi người được ngủ riêng một cái giường, không ai đụng chạm ai.

Chiều hôm đó hai anh em Hoàng dắt nhau đứng xếp hàng ăn tối. Hai anh em không có hành lý gì nên không cần chia nhau ở lại lều canh giữ đồ đạc như những gia đình có đông người. Những gia đình đó phải chia nhau, người đi ăn, người ở lại canh đồ đạc, có lẽ cũng chẳng có gì quý báu nhưng họ vẫn làm vì đó là những kỷ niệm còn lại của quê hương đã xa. Ở Guam, hình như mọi người không có gì làm nên khoảng bốn giờ là thiên hạ bắt đầu đứng xếp hàng lấy đồ ăn tối. Hoàng không nhớ đã ăn những gì hôm đó, chỉ nhớ là có “cocktail”, mà hình như ngày nào cũng có “cocktail” thì phải. Trong người Hoàng đang thiếu đường, thiếu chất ngọt, nên Hoàng rất thích món trái cây đó, ăn trưa hay ăn chiều Hoàng đều lấy một hay hai chén “cocktail”. Đêm đầu tiên ở đất Mỹ, Hoàng đã ngủ một giấc ngon lành, không còn biết trời trăng là gì nữa.

Sáng hôm sau mấy anh em Hoàng đi lang thang xung quanh trại, tìm gia đình, tìm người quen, coi người lạ, coi cảnh lạ. Người đi qua người đi lại, ồn ào không khác gì cái chợ Bến Thành. Những bà ngồi bên cạnh “đường” bán thuốc lá lẽ. Người Việt Nam cũng hay thật, không biết họ lấy thuốc lá ở đâu ra mà bán. Những tiếng kêu gọi tìm người thân được phát thanh nghe khắp cả trại. Hoàng cũng viết tên cha mẹ và anh chị Tùng Vi nhờ phát thanh, tiếng loa vang vang đọc tên nhưng chẳng có ai gọi tên anh em Hoàng. Tin tức trên đảo được tung ra không biết đúng hay sai. Có tin đồn là Mỹ sẽ đưa tất cả dân tị nạn vào đất liền gấp vì sắp sửa có bão lớn, những chiếc lều sẽ bị thổi tung trước những cơn gió to mạnh vũ bão. Tin đến rồi tin đi, mọi người vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Hoàng nghĩ, tới nước này rồi, có lo cũng không làm được gì, vận mạng của mọi người đều do người Mỹ quyết định. Thôi thì thí mạng mình cho ông trời vậy.

Trong mấy ngày ở trại, anh em Hoàng thức dậy sớm là lo đứng xếp hàng ăn sáng. Cho buổi ăn trưa thì đứng xếp hàng từ mười một giờ sáng đến một hay hai giờ trua. Cho buổi ăn tối thì từ bốn giờ đến sáu giờ chiều, lại xếp hàng chờ ăn. Cả ngày chỉ đứng xếp hàng chờ ăn là cũng đủ hết thời giờ. Hầu như ai cũng vậy nên hàng chờ đợi khi nào cũng dài lòng thòng. Thời gian còn lại có khi hai anh em Hoàng ra biển tắm, đi lang thang, chứ ít khi ngồi trong lều vì quá nóng. Buổi tối thì hai anh em ra ngồi coi xi nê ở ngoài trời. Một phim mà Hoàng còn nhớ là phim “The Towering Inferno”. Nói là coi phim cho vui chứ thật ra chỉ coi tài tử nhảy nhót đánh lộn chứ có hiểu gì đâu. Bảy năm học anh văn trả lại hết cho thầy cô.

Nói đến vấn đề vệ sinh cá nhân trong trại là cả một vấn đề. Lần đầu tiên Hoàng phải dùng cầu tiêu công cộng, chỉ muốn ói. Chưa quen và chỉ cần nhìn thoảng xuống một tí là hết ngay đau bụng, hết muốn nấn ná lại trong đó. Vài lần đầu còn nín được, sau đó thì nhắm mắt nhắm mũi, thả bom cho lẹ rồi tẩu. Còn việc đi tưới hoa thì quá dể, có cả một bầu trời nước long lanh màu xanh, không ai dành, cũng không ai chiếm chổ, cửa khi nào cũng mở rộng. Chỉ chịu khó bị ướt quần một tý mà thôi. Đi tắm thì khỏi phải nói, nước không hạn chế nên tha hồ mà tắm. Hoàng không nhớ lúc đó có xà bông tắm hay không. Chỉ có mấy cô gái là tội nghiệp. Mấy lần Hoàng đi ngang qua, nghe mấy cô la hét trong phòng tắm vì mấy tên Mỹ ngồi trên xe, gương mặt khả ố, nhe răng cười, tay chân chỉ chỏ vào phòng tắm.

Sau một tháng ở trại tạm cư Guam, anh em Hoàng được người Mỹ phỏng vấn và làm giấy tờ di chuyển đến trại mới mở bên Mỹ là trại Indiantown Gap ở Pennsylvania. Lúc đó không ai biết trại này ở đâu, cũng như chưa biết tiểu bang Pennsylvania là tiểu bang nào và ở đâu trên nước Mỹ, nhưng ai cũng rộn ràng, vui mừng vì như thế là vô được lục địa thay vì giam thân ở trên hòn đảo ngoài khơi Thái bình dương.

Sáng hôm sau, tuy không có hành lý gì nhiều nhưng anh em Hoàng cũng như những gia đình khác lục đục thu dọn đồ đạc chuẩn bị lên xe bus ra phi trường Guam, bay qua lục địa Mỹ. Vài người nói phi trường Guam là phi trường căn cứ của những chuyến bay B52, dùng toạ điểm để thả bom Bắc Việt. Ngồi trên xe bus Hoàng nhìn quanh, thấy xa xa những đỉnh đèo xanh tươi, nhìn xuống thì thấy những chiếc tàu tỵ nạn vẫn còn đậu xung quanh trong vịnh. Đó là những hình ảnh cuối cùng mà Hoàng còn nhớ được ở đảo Guam.

Chiếc máy bay từ từ lăn bánh ra phi đạo, ngừng lại một khoảnh khắc, rồi tiếng động cơ càng lúc càng rú mạnh, chiếc máy bay chuyển động từ chậm rồi tăng tốc độ thật nhanh, chiếc máy bay bốc mình lên rời phi đạo. Hoàng nắm chặt tay Huy, thóp bụng, mắt nhắm chặt lại, lòng thầm cầu mong mọi sự được bình yên. Chiếc máy bay lấy thăng bằng trở lại, không còn lên cao gấp nữa, Hoàng thở mạnh ra, mở mắt nhìn xung quanh, thấy mọi người vẫn còn đó, bình an vô sự. Anh em Hoàng nói chuyện qua loa rồi ai nấy ngồi im, mỗi người mỗi tâm sự. Hoàng lại nhắm mắt, suy nghĩ những sự việc đã trải qua rồi chìm vào giấc ngủ mệt mỏi ....

….. Máy bay đáp xuống phi trường ở Harrisburg, Pennsylvania vào buổi chiều. Hoàng nhìn ra cửa kính máy bay, những chiếc xe Bus đã đậu ở dưới sân bay, đang sẵn sàng đưa mọi người đến một nơi xa lạ nào đó. Mọi người đứng xếp hàng đi xuống máy bay rồi lại xếp hàng đi lên xe Bus, theo trật tự không tranh giành. Mặt mũi anh em Hoàng lúc đó chắc mệt mỏi, bơ phờ và đầy bỡ ngỡ. Không biết làm gì, nói gì, chỉ răm rắp làm theo những gì người ta chỉ định cho mình. Trời chiều hôm đó thật mát hay vì Hoàng chưa quen khí hậu nên cảm thấy lành lạnh. Mà hình như ai cũng cảm thấy lạnh, một phần cũng vì thân thể suy nhược yếu đuối, cả mấy tháng nay, tinh thần ai nấy căng thẳng, ăn uống không điều hòa, không đầy đủ chất sinh dưỡng. Nhìn cảnh vật xung quanh, những ngọn đồi cỏ xanh tươi mát, gió thổi hiu hiu, những cành cây cao vút rung rinh theo gió. Một hình ảnh thật ấm áp, dịu dàng, mà sau này, đi mười mấy cái tiểu bang khác, Hoàng vẫn không tìm thấy lại được những cảnh trí đó.

Đoàn xe Bus chạy một hồi lâu thì đến trại lính “Indiantown Gap”. Trong trại đã có những người tỵ nạn khác đến trước. Mọi người lại lục tục xách hành lý xuống xe, anh em Hoàng chọn một căn nhà lính, ở chung với những gia đình khác. Thu dọn chổ ăn chổ ở tạm xong, lại xếp hàng đến “Mess hall” ăn cơm tối. Cuộc sống của hai anh em Hoàng gần một tháng ở trại là như sau: mỗi ngày xếp hàng ăn ba bửa cơm, thanh niên thiếu nữ ban ngày thì đá banh hay chơi những môn thể thao khác, hay tập nói tiếng Anh với những người lính Mỹ. Buổi tối thì coi phim.

Trong trung tuần tháng sáu, anh em Hoàng được giấy nhà thờ bảo trợ. Tên thành phố là St. Paul, Minnesota. Một cái thành phố mà tên chưa hề nghe qua một lần và cái tên tiểu bang cũng quá xa lạ với. Mặc dù không biết gì về chổ bảo trợ sắp tới này nhưng sao hai anh em Hoàng đều nôn nóng, mong chờ ngày đi. Tương lai trước mặt vẫn còn mịt mùng chưa biết đến đâu, tuy nhiên vẫn gợi cho Hoàng một niềm hy vọng, còn hơn cứ quanh đi quẩn lại trong cái trại lính này.

Đến phi trường Harrisburg, những người làm việc thiện nguyện trong tổ chức ICCO giúp đỡ những gia đình tị nạn đến những cổng (gate) chờ máy bay. Một người nào đó đã kéo tất cả hành khách Việt Nam của chuyến bay sắp cất cánh chụp chung một tấm hình, người nào người nấy ốm tong ốm teo và đen thui. Tóc Hoàng dài quá vai. Nhớ lại năm nào Hoàng bị gọi đứng dậy trong lớp vì tội để tóc dài hơi quá cổ áo một chút xíu, nếu bây giờ ông giám thị mà thấy tóc tai Hoàng như thế này chắc ông sẽ té ngửa chết giấc. Đến giờ lên phi cơ, mọi người lục đục kéo nhau lên, chuyến máy bay đầu tiên của anh em Hoàng với người dân Mỹ. Trên máy bay, Hoàng nghe mấy cô tiếp viên hàng không nói chuyện cứ như là vịt nghe sấm, chả hiểu câu nào ra câu nào. Thôi đành nhắm mắt giả bộ ngủ thì họ sẽ không làm „phiền“ mình nữa. Hoàng đánh một giấc dài cho đến khi máy bay đáp xuống phi trường quốc tế Minneapolis-St. Paul, tiểu bang Minnesota.

Xuống phi cơ, anh em Hoàng được đón tiếp một cách khá tử tế dù khác biệt về ngôn ngử và phong tục. Ông mục sư Tin Lành đưa hai anh Hoàng và gia đình bác Thuần ra xe. Gia đình bác Thuần và hai anh em Hoàng được cùng một nhà thờ bảo trợ nên quen nhau từ ngày đầu tiên. Ngồi trên xe, lúc đó đầu óc của Hoàng thật sự hoàn toàn trống rỗng, tất cả mọi cử động chỉ còn là phản xạ. Xe chạy bon bon trên xa lộ, Hoàng ngộp cả người, xe chạy vùn vụt với tốc độ khá nhanh….Xa lộ chỉ toàn xe hơi, không một chiếc xe gắn máy, những tòa nhà thật cao, đặc biệt nhất là không có bóng dáng người đi bộ ngoài đường. Khi xe chạy qua những khu phố có nhà cửa thật đẹp và khang trang, Hoàng tự nhủ „đi tị nạn như thế này cũng không đến nổi tệ hại lắm“. Xe vẫn tiếp tục chạy, chạy mãi, không biết sẽ đến đâu…...

(còn tiếp....)
Back to top
View user's profile Send private message
bichlieu



Joined: 30 Mar 2008
Posts: 6224
Location: CANADA

PostPosted: Tue Sep 24, 2013 1:58 pm    Post subject: Reply with quote

.......................
Bà chủ tầu tên thật là gì không ai biết,chỉ thấy moi nguòi đều gọi bà là bà Ba,bà có hai chiếc tầu viển dưong,một chiếc chở hàng và một chiếc chở dầu.
Trong chuyến lánh nạn này cả hai chiếc cùng chở đầy nhửng nguòi tỵ nạn.Nhờ việc liên lạc bằng radar ,đưọc biết đả có tầu bị các binh sỉ có súng,uy hiếp chủ tầu phải ra lệnh cho thuỷ thủ đoàn đi theo hưóng họ muốn nên sau khi họp,bàn thảo ,vị thuyền trưỏng đả dùng máy phóng thanh yêu cầu nhửng nguòi có súng trên tầu tự động xin hảy
vứt hết xuống biển.
Sau vài ngày thì tầu tói hải phận của Singapore. Giói chức trách sở tại cho nguoì yêu cầu thuyền trưỏng ,chủ tầu và một nguòi thông dịch viên theo họ xuống một chiếc ca nô vào bờ để bàn thảo về số phận con tầu. Mọi nguòi nhốn nháo,cử đại diện lên gặp vị thuyền trưỏng đua ra rất nhiều tiền ,mong đưọc đỏi thành dollars .Đén lúc này,Thảo mói biết là nhửng nguòi mua vé xuống tầu từ trưóc đả sửa soạn và mang theo rất nhiều tiền ,con số khổng lồ,họ trao cho
bà chủ tầu nhờ đỏi tiền mà chỉ vội vàng cho biêt số tiền.bà chủ tầu quơ nắm tiền ,đúng hơn là túi tiền mà củng chẳng kiọp hay chẳng thể nhờ đưọc là bao nhiêu và của ai.Họ trao nhau trong vội vả và củng hy vọng vớt vát đưọc đòng nào trưóc khi đòng bạc VN chính thức mất giá trị.
Bình đi theo đẻ thông dịch nên anh đưọc biết là sau khi hai bên thoả thuận,chính phủ Singapore cấp luông thực,dầu và một số quần áo củ thì tầu sẻ trực chỉ đi đảo Guam.Bà chủ tầu có nguòi con gái đang du học ở Miami,bà cho số phone và xin đưọc liên lạc vói cô con gái.Lúc phai doàn đại diện đàm phán xong,trở lại tầu chờ đọi tiếp tế như lòi hứa thì có nguòi ngồi trên chiếc ca nô,dùng loa cho biết là *Mrs Troi`,you can come to the shore * Cả tầu nhốn nháo *Ai là bà Troi ?* *Tai sao bà này lại bị họ bắt giủ lại ?* Có ảnh hưỏng gì đến chúng ta không ? Mà ai là bà Tròi ? Bà Tròi là bà nào ?
Lâu lắm ,mải mói thấy bà chủ tầu la hoảng lên *là tôi,là tôi,cậu Binh oi,làm ơn nói vói họ và hỏi xem họ muốn gì,tên trên giấy tờ của tôi là Nguyển Thị Trois vì tôi có quốc tịch Pháp ,nhưng mọi nguòi quen gọi tôi là Ba mà họ đọc thành Tròi thì làm sao tôi biết đưọc chứ ! Tròi oi ,khổ quá !*
Thì ra con gái bà phone trở lại nên họ tìm bà để mẹ con đưọc nói chuyện vói nhau.
Mọi nguòi thở phào nhưng không ai dám cưòi .Khi tầu tiếp tục ra khoi thì bà chủ tầu là nguòi nhắc lại chuyện này mà cuòi ngặt nghẻo để nhửng nguòi chung quanh có dịp cuòi theo.
Vài ngày sau tàu đi ngang Subic Bay thì ghé lai,một số nguòi đưọc
đỏ bót xuống đây.Tầu đưọc tiếp tế thêm cá hộp, bánh mì sandwich
nuóc ngọt ,nuóc cam,nuóc trái vải và cả nhửng lon coca.
Cá hộp nhiều đến nổi trẻ con ăn nhiều quá bị mụn nhọt và ngán.
Có nguòi sợ cá hộp đến cả vài năm sau.
Có nguòi đả sống ở nuớc ngoìa thòi gian trưóc thìo bảo *Bây giò ăn bánh mì sandwich thấy ngon ,chứ ít nửa thèm cơm,nhìn thấy sandwich phát sợ còn hơn sợ cá hộp nủa.
Phần Thảo sau gần 2 tuần lể ói mửa và nhấm toàn cơm cháy,đưọc ăn bánh mì vói cá hộp củng thấy ngon miêng,nhất là đưọc uống nuóc lychee lần đầu tiên,có lẻ là quá date nên nưóc có mầu hồng nhưng thật thơm mùi trái vải,chưa bao giò Thao đưọc uống thứ nuóc trái cây thơm và ngon đến thế !
Back to top
View user's profile Send private message
CHUNGDAO



Joined: 19 Mar 2011
Posts: 1210

PostPosted: Wed Sep 25, 2013 4:21 am    Post subject: Reply with quote


Chiến sự ngày càng trở nên khốc liệt, phần vì sợ lấn cấn tay chân chồng, phần sợ đứa con còn quá nhỏ không chạy kịp nên Loan không thể ở lại mãi cùng chồng ở vùng dầu sôi lửa bỏng này, chồng Loan quyết định cho hai mẹ con rời thành phố Quảng Trị khô cằn sỏi đá để về Saigon ở cùng với gia đình ông bà ngoại,

Mặt trận khắp nơi truyền đi các tin tức chiến sự nóng bỏng, nhà nhà hoang mang tìm cách liên lạc với chồng hay con cái trong quân đội để biết chắc người thân mình vẫn còn bình yên. Chồng Loan gởi hai mẹ con lên một chiếc quân xa để ra Đà Nẵng đón tầu về Saigon vì lúc này đường bộ dọc theo miền Trung nhiều nơi cũng đang diễn ra chiến trận sôi nổi. Nhìn hai mẹ con vất vả leo lên xe với sự trợ giúp của các anh lính, chồng Loan đau xót cả lòng, chiến tranh đã đẩy cả gia đình nhỏ bé của anh đến nơi gần tận cùng đất nước này. Loan cố lấy chiếc áo len của mình che chở cho đứa con nhỏ dưới ánh nắng như thiêu đốt của miền trung, đặc biệt trong cái đầu tháng 3 khô hạn này. Đưa tay vẫy chồng lần chót, thấy rõ sự tuyệt vọng trong đôi mắt anh, ánh mắt bất lực của người đàn ông khi không còn khả năng ở bên cạnh vợ con để bảo bọc cho họ khi cần anh nhất. Bùi ngùi nhìn chồng xa dần, Loan ôm đứa con chưa đầy tuổi vào lòng, chợt rùng mình nghĩ rằng “ôi chiến tranh sẽ còn cướp mất những gì từ cái gia đình nhỏ bé của mình nữa”

Xe đi qua bao nhiêu đường núi gập gềnh, may mà không phải mùa mưa nếu không chắc hai mẹ con thế nào cũng bị cảm lạnh. Trên đường đi những đoàn người lôi thôi lếch thếch, gánh theo con nhỏ, quần áo, thậm chí mùng mền soong chảo cố ra khỏi vùng chiến sự. Có cả những người lính bỏ súng, chen lấn giữa đoàn người chạy loạn, hình như họ đang cố tìm gia đình vợ con trong dòng người hỗn loạn đó.

Sau hai ngày đêm thì Loan đến Đà Nẵng, ghé vội vào nhà người bà con bên chồng để báo tin về cho cha mẹ mình, cùng tắm giặt cho đỡ mệt, Loan lại ra cảng tìm tầu về Saigon vì lúc đó chỉ có vợ con các viên chức cao cấp mới được phép đi máy bay, còn tầu là phương tiện duy nhất giúp mọi người thoát khỏi miền Trung đang sắp thất thủ. Loan đã từng yêu cầu chồng về SG cùng mình nhưng ngặt là trong quân đội như thế là đào ngũ tội rất nặng, nhất là trong tình hình quân đội phải trực chiến 24/24 như thế.

Rồi với sự giúp đỡ của người bà con bên chồng, Loan và con cũng lên được một chiếc tầu đã đầy người sắp sửa rời bến Đà Nẵng, Đó là một con tầu tương đối lớn, chuyên chở hàng hóa từ miền Trung về SG nhưng hiện nay trong tình thế khẩn trương, chiếc tầu đã được thay đổi chức năng để chở những người muốn chạy vào miền Nam, địa điểm cuối cùng mà mọi người vẫm tin là an toàn nhất. Suốt mấy ngày trên tầu Loan bị say sóng nằm bẹp dí, đứa con nhỏ may còn có người thương tình chăm sóc đút cho chút cháo. Con bé hình như cũng quá kiệt lực nên chẳng còn sức để khóc ré lên như những ngày đầu. Sóng cứ dập dềnh, thành phố Đà Nẵng xa dần, bỏ lại bao nhiêu người tìm cách lên tầu nhưng bất thành. Tầu ra đến biển, xung quanh chỉ còn bao la nước và nước, xa xa vài con tầu khác cũng đang cố sức thoát ra khỏi mảnh đất miền trung lửa đạn này. Trên tầu chẳng có gì nhiều để ăn, Loan chỉ kịp bọc theo vài hộp sữa đặc cho con, nhưng nước ngọt là vấn đề lớn. Có lúc không còn nước ngọt để pha sữa Loan đành nhờ người thòng cái ca xuống múc nước biển pha sữa cho con bé.

Sau 4 ngày lên đênh trên biển, mọi người dù kiệt sức vẫn vui mừng khi thấy xuất hiện ánh đèn xa xa chứng tỏ tầu sắp vào đất liền. Tầu cập bến Khánh Hội, bố mẹ đã chờ sẵn ở bến tầu để đón con gái cùng đứa cháu ngoại đầu tiên. SG lúc nào cũng nhộn nhịp như chưa từng biết đến chiến tranh là gì, từ vùng lửa đạn trở về, nhìn bà con vẫn nhởn nhơ quần là áo lụa đi chơi, Loan muốn hét thật to lên “các người có biết những gì đang tiếp diễn ở một nơi không xa lắm trên đất nước này không?”

Sống trong vòng tay của gia đình bố mẹ Loan như người hồi sinh. Con bé là đứa cháu duy nhất và đầu tiên lúc bấy giờ nên được cưng chiều nựng nịu, trẻ con thật mau hồi phục, mới được tẩm bổ vài ngày con bé đã bụ bẫm trở lại chỉ còn nước da vẫn còn hơi sạm vì nắng gió miền trung. Khi đã yên ổn phần mình và con, Loan lại chạnh lòng nhớ tới chồng ở nơi đầu sóng ngọn gió, giờ này anh đang làm gì, có còn bình yên để về với mẹ con cô? Radio truyền đi tin tức chiến sự từ khắp các vùng chiến thuật được bố mở to lên hầu như 24/24 chỉ trừ lúc cả nhà đi ngủ….
Back to top
View user's profile Send private message
Display posts from previous:   
Post new topic   Reply to topic    Trưng Vương (58-65) Diễn Đàn Forum Index -> Bài Viết All times are GMT - 7 Hours
Goto page Previous  1, 2, 3, 4  Next
Page 2 of 4

 
Jump to:  
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum


Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group